vanban.org

Bản án 61/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên Tuyên án 29/06/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Sùng A Th (tên gọi khác: Không) phạm tội: “Mua bán trái

phép chất ma túy”: Xử phạt bị cáo Sùng A Th 03 (ba ) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Sùng A Thao - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Sùng A Th (tên gọi khác: Không) phạm tội: “Mua bán trái
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2022/HS-ST
Ngày 29-6-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Giang.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lường Văn Dũng.

2. Ông Bùi Như Lữ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lò Thị Hòa, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên Đông tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Ái, Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 6 năm 2022, tại hội trường xét xử Tòa án huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên, Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 59/2022/HSST ngày 27 tháng 5 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2022/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 6 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Sùng A Th (tên gọi khác: Không), sinh năm 1995 tại tỉnh Điện Biên; nơi cư trú: Bản Pu Nh B, xã Pu Nh, huyện Điện Biên Đ, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ văn hóa: Không; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Sùng Giống C, sinh năm 1954 và bà Hờ Thị D (đã chết); vợ Hạng Thị N (đã chết) và có 04 con, con lớn nhất sinh năm 2013, con nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không;

Bị tạm giữ từ ngày 10/3/2022 đến ngày 13/3/2022, tạm giam từ ngày 13/3/2022 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

Anh Lò Văn T, sinh năm 1987. Địa chỉ: Bản Lọng Ch, xã Na S, huyện Điện Biên Đ, tỉnh Điện Biên, vắng mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo:

Ông Nguyễn Quang Kh - Là Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ ngày 09 tháng 03 năm 2022, Sùng A Th một mình đi bộ từ nhà ở bản Pu Nh B, xã Pu Nh đến khu vực nương thuộc Bản Pu Nh B, xã Pu Nh, huyện Điện Biên Đ, tỉnh Điện Biên thì gặp một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết và mua được 01 gói heroine và 07 viên Methamphetamine với giá 500.000đ. Sau khi mua được số ma túy trên Th mang về nhà lấy một ít heroine và 02 viên methamphetamine ra sử dụng, số ma túy còn lại Th cất giấu trên người mục đích để sử dụng và bán lẻ kiếm lời, cụ thể: Khoảng 09 giờ ngày 10/3/2022, Sùng A Th đang ở nhà một mình thì có Lò Văn T, sinh năm 1987, trú tại bản Lọng Ch, xã Na S, huyện Điện Biên Đ đến nhà Th để hỏi mua ma túy, tại đây, Th đã bán cho Tuân 01 viên Methamphetamine thu được 50.000đ, số ma túy còn lại Th chưa kịp sử dụng và bán thì bị tổ công tác công an huyện Điện Biên Đông phát hiện, qua vận động giải thích Th đã tự nguyện giao nộp cho tổ công tác. Tổ công tác công an đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng theo quy định của pháp luật.

Vật chứng vụ án thu giữ: 02 gói nilon màu trắng bên trong có 01 gói chứa chất bột màu trắng đục dạng nén nghi Heroine, 01 gói có chứa 04 viên nén màu hồng trên bề mặt có ký hiệu WY nghi ma túy tổng hợp; 01 tờ tiền mệnh giá 50.000đ tiền ngân hàng Nhà nước Việt Nam và 01 cân tiểu ly vỏ bằng gỗ, cũ đã qua sử dụng.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng hồi 14 giờ 50 phút ngày 10/3/2022 xác định: Số chất bột màu trắng đục dạng nén nghi Heroine thu giữ của Sùng A Th có khối lượng là 1,69 gam, trích mẫu giám định 0,22 gam còn lại 1,47 gam; Số viên nén màu hồng trên bề mặt có ký hiệu WY nghi Methamphetamine thu giữ của Sùng A Th có khối lượng là 0,34 gam, trích mẫu gửi giám định 0,17 gam còn lại 0,17 gam.

Tại bản kết luận giám định số: 420/KL-KTHS ngày 17/3/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trích ra từ vật chứng thu giữ của Sùng A Th là chất ma túy: Loại Heroine; Mẫu viên nén màu hồng trích ra từ vật chứng thu giữ của Sùng A Th là chất ma túy: Loại Methamphetamine.

Tại bản kết luận giám định số: 424/KL-KTHS ngày 18/3/20222 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luật: 01 tờ tiền mệnh giá 50.000đ (năm mươi nghìn đồng) có số mã hiệu BH19016224 là tiền thật.

Bản cáo trạng số: 32/CT-VKS-ĐBĐ ngày 26 tháng 5 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Sùng A Th về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Sùng A Th cả về tội danh và điều luật áp dụng. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử, áp dụng Khoản 1 Điều 251, Điểm s Khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Sùng A Th từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điểm b, c Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điểm a, b, c Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự:

- Tịch thu, tiêu hủy số vật chứng còn lại của vụ án sau khi giám định là 1,47 gam Heroine và 0,17 gam Methamphetamine;

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 50.000đ;

- Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc cân tiểu ly vỏ bằng gỗ cũ đã qua sử dụng hiện không còn giá trị sử dụng theo quy định pháp luật; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Tại phiên tòa, người làm chứng anh Lò Văn T vắng mặt nhưng đã có lời khai thể hiện rõ: Vào khoảng 09 giờ 00 phút ngày 10/3/2022 Lò Văn T có lên nhà Sùng A Th, tại Bản Pu Nh B, xã Pu Nh, huyện Điện Biên Đ, tỉnh Điện Biên hỏi và mua được của Sùng A Th 01 viên Methamphetamine với giá 50.000đ.

Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo Sùng A Th trình bày luận cứ bào chữa như sau: Nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát truy tố về tội danh, điều luật áp dụng đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ, nhân thân về điều kiện, hoàn cảnh phạm tội của Sùng A Th để áp dụng mức án thấp nhất theo đề nghị của Viện kiểm sát đối với bị cáo; Người bào chữa cho bị cáo đồng tình với Kiểm sát viên về quan điểm xử lý vật chứng; hình phạt bổ sung, án phí và các vấn đề khác. Do đề nghị của người bào chữa phù hợp với đề nghị của Viện kiểm sát, nên HĐXX chấp nhận.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tranh luận gì

với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Xét về hành vi của bị cáo Sùng A Th thấy rằng: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố. Cụ thể: Hồi 09 giờ 50 phút ngày 10/3/2022 tại nhà của Sùng A Th ở Bản Pu Nh B, xã Pu Nh, huyện Điện Biên Đ, tỉnh Điện Biên. Tổ công tác Công an huyện Điện Biên Đông phát hiện Sùng A Th đang tàng trữ trái phép 1,69 gam Heoine và 0,34 gam Methamphetamine, mục đích để sử dụng và bán lẻ kiếm lời.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý ma túy của Nhà nước, làm mất ổn định trật tự trị an, an toàn xã hội. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Sùng A Th đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Tại Khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự quy định: “1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.

Như vậy, Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên Đông truy tố bị cáo về tội danh và điều luật là có căn cứ cần chấp nhận.

. Về tính chất, mức độ phạm tội: Tuy chỉ mang tính chất giản đơn nhưng nguy hiểm cho xã hội và thuộc trường hợp nghiêm trọng, bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp và là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, hành vi đó đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an, an toàn xã hội trên địa bàn xã Pu Nhi nói riêng, huyện Điện Biên Đông nói chung. Vì vậy, bị cáo phải chịu sự trừng phạt của pháp luật là điều tất yếu.

. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Bị cáo sinh ra trong một gia đình thuần nông, được bố mẹ nuôi dưỡng, bị cáo không được đi học ở nhà lao động sản xuất, đến tuổi trưởng thành xây dựng gia đình với chị Hạng Thị N và có 04 người con. Bản thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, ông nội bị cáo là Sùng Vả Kỷ được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng 3. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm s Khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử, xét thấy cần phải áp dụng hình

phạt tù có thời hạn để cải tạo, giáo dục đồng thời để cai nghiện bị cáo trở thành công dân sống có ích cho gia đình và xã hội.

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại Khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”, do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy nghề nghiệp bị cáo làm nông nghiệp, là đối tượng nghiện chất ma túy, tài sản gia đình không có gì có giá trị, hoàn cảnh gia đình khó khăn, gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo. Do vậy, không có điều kiện để thi hành án. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo như đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp.

. Về vật chứng vụ án:

+ Đối với 1,69 gam Heroine, trích mẫu giám định 0,22 gam, còn lại 1,47

gam và 0,34 gam Methamphetamine, trích mẫu giám định 0,17 gam, còn lại 0,17 gam là chất thuộc Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành, cần tịch thu và tiêu hủy toàn bộ theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

+ Đối với 01 tờ tiền 50.000đ là tiền do phạm tội mà có do đó cần tịch thu

sung vào ngân sách Nhà nước theo quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điểm b Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

+ Đối với 01 chiếc cân tiểu ly vỏ bằng gỗ cũ đã qua sử dụng, hiện không

còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại Điểm c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

. Các vấn đề khác:

+ Đối với người đàn ông dân tộc Mông theo lời khai của bị cáo Sùng A Th là người đã bán ma túy cho bị cáo. Do bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ chính xác nên Cơ quan CSĐT không đủ căn cứ để xác định, khi nào xác minh làm rõ sẽ đề xuất xử lý sau, HĐXX cần xem xét, chấp nhận.

+ Đối với Lò Văn T, sinh năm 1987, trú tại Bản Lọng Ch, xã Na S, huyện Điện Biên Đ, tỉnh Điện Biên theo lời khai của bị cáo Sùng A Th là người đã mua 01 viên Methamphetamine của bị cáo với giá 50.000đ. Cơ quan CSĐT Công an huyện Điện Biên Đông đã tiến hành điều tra, xác minh, lấy lời khai Lò Văn T, Tuân thừa nhận đã mua 01 viên Methamphetamine với giá 50.000đ nhưng Tuân đã sử dụng hết. Ngày 13/3/2022 Công an huyện Điện Biên Đông đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo, HĐXX cần xem xét, chấp nhận.

. Về án phí: Bị cáo là cá nhân thuộc hộ nghèo và là người dân tộc thiểu số, đang cư trú tại bản Pu Nh B, xã Pu Nh, huyện Điện Biên Đông là nơi có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Vì vậy, HĐXX áp dụng Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm đ Khoản 1 Điều 12, Khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng xét xử miễn toàn bộ tiền án phí Hình sự sơ thẩm đối với bị cáo.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ Khoản 1 Điều 251; Điểm s Khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật

hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Sùng A Th (tên gọi khác: Không) phạm tội: “Mua bán trái

phép chất ma túy”:

Xử phạt bị cáo Sùng A Th 03 (ba ) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt

tạm giữ (ngày 10/3/2022).

2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điểm b, c Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình

sự; Điểm a, b, c Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;

+ Tịch thu tiêu hủy: 1,47 gam Heroine và 0,17 gam Methamphetamine (đã

trừ giám định);

+ Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc cân tiểu ly vỏ bằng gỗ cũ đã qua sử dụng.

+ Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 50.000đ (Năm mươi nghìn

đồng) do bị cáo phạm tội mà có.

Vật chứng đã được niêm phong và bàn giao sang Chi cục Thi hành án

dân sự huyện Điện Biên Đông theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 14 giờ 20 phút ngày 26/5/2022 giữa cơ quan Công an huyện Điện Biên Đông và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Điện Biên Đông.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm đ Khoản 1 Điều 12, Khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14;

Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo Sùng A Th.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng

hình sự;

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên

án (ngày 29/6/2022)./.

Cỡ chữ