- Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYỄN HOÀNG TIÊN P Đ330 - phạm tội chống người thi hành công vụ (điều 330 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hoàng Tiến P phạm tội "Chống người thi hành công vụ".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 61/2022/HS-ST Ngày: 02-8-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hùng Cường.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Tống Văn Truyền.
Bà Nguyễn Thị Oanh Thy.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Văn Thành – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bến Lức.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Xuân Hương – Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Lức tỉnh Long An tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 35/2022/TLST-HS ngày 01 tháng 6 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2022/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 7 năm 2022 đối với bị cáo:
Nguyễn Hoàng Tiến P, tên gọi khác: không, sinh năm 2001 tại thành phố Hồ Chí Minh. Nơi thường trú: Số 44 T, phường Z, quận X, thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Võ Dương C, sinh năm 1979 và bà Nguyễn Thị Minh H, sinh năm 1979; bản thân chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/02/2022 cho đến nay, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Nguyễn Văn Hồng P, sinh năm 1985
ĐKTT: Ấp Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An (vắng mặt).
2. Khấu Gia H, sinh năm 2000
ĐKTT: Ấp 2, xã T, huyện B, tỉnh Long An (có mặt).
3. Trần Minh T, sinh năm 1977
ĐKTT: khu phố 1, thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An (vắng mặt).
4. Ngô Thị Trúc L, sinh năm 1970
ĐKTT: Ấp 2, xã T, huyện B, tỉnh Long An (có mặt).
5. Ung Xuân H, sinh năm 1961
ĐKTT: Ấp 2, xã T, huyện B, tỉnh Long An (có mặt).
- Người làm chứng:
1. Nguyễn Thanh T, sinh năm 1973
ĐKTT: Ấp 2, xã T, huyện B, tỉnh Long An (vắng mặt).
2. Trương Hoàng H, sinh năm 2000
ĐKTT: Ấp 2, xã T, huyện B, tỉnh Long An (vắng mặt).
3. Khấu Duy K, sinh năm 2003
ĐKTT: Ấp 2, xã T, huyện B, tỉnh Long An (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 00 phút, ngày 06/02/2022, Nguyễn Hoàng Tiến P đến nhà ông ngoại là Nguyễn Văn N tại ấp 2, xã T, huyện B uống bia. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, sau khi tan tiệc G (dì ruột của P) điều khiển xe mô tô về thành phố Hồ Chí Minh, do remote điều khiển xe hết pin không khởi động xe được nên P chạy xe mô tô đến tiệm tạp hóa mua pin về gắn remote cho Y. Khi P đến tiệm tạp hóa của chị Ngô Thị Trúc L cách nhà ông Nh khoảng 200 mét mua pin giá 20.000đ, P quên đem theo tiền nên nói với chị L thế chiếc nhẫn bằng vàng 18K, chút về mang tiền ra trả nhưng chị L thấy P là khách lạ nên không đồng ý. Lúc này, đối diện tiệm tạp hóa chị L, cách khoảng 05 mét có ông Ung Xuân H ngồi trên xe lăn, nhìn thấy P thế chiếc nhẫn nên nói “không biết nhẫn thiệt hay giả” nên giữa P và H cự cãi lớn tiếng. Sau đó, P chạy về nhà ông Nh lấy tiền, quay lại mua pin và tiếp tục cãi nhau với ông H, bực tức P đi đến chỗ H dùng tay đánh 01 cái vô mặt H nhưng không gây thương tích thì được Nguyễn Thanh T và 02 người đi đường can ngăn, T gọi điện thoại báo Công an xã Tân Bửu tại khu vực chợ xã Tân Bửu có vụ đánh nhau. Lúc này, Nguyễn Văn Hồng P là Công an viên xã Tân Bửu đang trực tại đơn vị nhận điện thoại của T nên báo Trưởng Công an xã Trần Minh T, được Tr5 phân công Ph2 và Khấu Gia H, Trần Cao T là Công an viên cùng 02 dân quân là Nguyễn Thanh T và Nguyễn Phi H đến khu vực Chợ Tân Bửu thuộc ấp 2, xã T, huyện B giải quyết vụ đánh nhau. Khi đi, tất cả mặc trang phục ngành Công an và Dân quân theo quy định, H1 chạy trước, P, Tr, T và H chạy phía sau. Khi đến hiện trường, H1 thấy P đang la hét chửi bới lớn tiếng gây mất trật tự nên H1 yêu cầu P giữ bình tĩnh để Công an xã giải quyết nhưng P không chấp hành. P đứng đối diện H1, tiếp tục la hét, chửi bới, P vung tay trái đánh 01 cái từ trái qua phải trúng vào mặt bên phải H1, vung tay phải đánh 01 cái hướng từ phải qua trái trúng vào má trái H1 làm H1 té xuống đường. Cùng lúc này, P, Tr, T và H đến hiện trường đánh nhau Ph2 nói “Tôi là Công an xã”, hỏi P có chuyện gì Công an sẽ giải quyết và yêu cầu P giữ bình tĩnh nhưng P không chấp hành. P tiếp tục vung hai tay đánh vào mặt Ph2 và cự cãi lớn tiếng. Sau đó, lực lượng Công an xã Tân Bửu cùng người dân khống chế P, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đưa về trụ sở tiếp tục làm việc.
Tại biên bản xem xét dấu vết trên thân thể của Nguyễn Văn Hồng P lập hồi 22 giờ 00 phút ngày 06/02/2022 tại Công an xã T, huyện B thể hiện: Trên má phải, trái bị sưng có vết ửng đỏ (không rõ hình); Biên bản xem xét dấu vết trên thân thể của Khấu Gia H lập hồi 22 giờ 15 phút ngày 06/02/2022 tại Công an xã T, huyện B thể hiện: Trên má trái bị sưng có vết ửng đỏ (không rõ hình).
Tại cáo trạng số 49/CT-VKSBL ngày 01/6/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức truy tố Nguyễn Hoàng Tiến P về tội “Chống người thi hành công vụ” quy định tại khoản 1 Điều 330 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hoàng Tiến P hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội bị cáo thực hiện đúng như nội dung cáo trạng đã nêu. Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng Tiến P về tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự năm 2015 là đúng người, đúng tội đúng pháp luật, không oan.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức trong phần luận tội đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã bồi thường xong cho ông Ung Xuân H nên xem xét giảm cho bị cáo một phần về hình phạt theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng Tiến P phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.
Áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Tiến P từ 06 tháng đến 09 tháng tù, thời gian tù tính từ ngày 06/02/2022.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi xự việc xảy ra, anh Nguyễn Văn Hồng P, Khấu Gia H, Ung Xuân H có đơn từ chối giám định thương tích. Ph2 và H1 không có yêu cầu bồi thường gì nên không xét đến. Riêng đối với ông H yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền điều trị thương tích là 6.000.000 đồng, tại phiên tòa bị cáo và ông H đã tự nguyện thỏa thuận bị cáo bồi thường cho ông H số tiền điều trị thương tích là 6.000.000đồng, đã giao nhận tiền xong, ông H không có yêu cầu gì thêm nên ghi nhận không xét đến.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi của mình đúng như cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát đã nêu. Bị cáo không tranh luận, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn Hồng P, Trần Minh T, người làm chứng vắng mặt nhưng đã có lời khai đầy đủ trong quá trình điều tra và việc vắng mặt của những người này không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án nên căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng.
Về hành vi phạm tội của bị cáo
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các chứng cứ khác mà cơ quan điều tra đã thu thập được thẩm tra tại phiên tòa vào khoảng 16 giờ ngày 06/02/2022, Nguyễn Hoàng Tiến P sau khi uống bia tại nhà ông Nguyễn Văn N ở ấp 2, xã T, huyện B, P đến tiệm tạp hóa mua pin thì xảy ra cự cãi với ông Ung Xuân H, do ông H thấy P thế chiếc nhẫn cho chủ tiệm tạp hóa thì nói “không biết nhẫn thiệt hay giả”. Sau đó, P đánh 01 cái vô mặt H không gây thương tích được Nguyễn Thanh T can ngăn và gọi điện thoại báo cho Nguyễn Văn Hồng P là Công an viên xã Tân Bửu đang trực tại đơn vị. Ph2 báo Trưởng Công an xã là Trần Minh T, được Tr5 phân công Ph2 và Khấu Gia H, Trần Cao T là Công an viên cùng 02 dân quân là Nguyễn Thanh T và Nguyễn Phi H đến khu vực Chợ Tân Bửu thuộc ấp 2, xã T, huyện B giải quyết vụ đánh nhau. Khi đi, tất cả mặc trang phục công vụ đúng quy định, H1 chạy trước, Ph2, Tài và Hùng chạy phía sau. Khi đến hiện trường, H1 thấy P đang la hét chửi bới nên H1 yêu cầu P giữ bình tĩnh để Công an xã giải quyết nhưng P không chấp hành. P vung tay đánh 02 cái trúng vào mặt H1 làm sưng đỏ mặt bên trái. Cùng lúc này, P, Tr, T và H đến, Ph2 xưng là Công an xã, hỏi P có chuyện gì và yêu cầu P giữ bình tĩnh nhưng P không chấp hành, P tiếp tục vung hai tay đánh vào mặt Ph2 làm mặt Ph2 bị thương. Sau đó, P bị khống chế đưa về trụ sở Công an xã Tân Bửu để làm việc. Như vậy có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Hoàng Tiến P phạm tội “Chống người thi hành công vụ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 330 Bộ luật hình sự năm 2015. Do đó, cáo trạng truy tố bị cáo và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ và đúng pháp luật không oan.
Hành vi trái pháp luật của bị cáo đã xâm phạm trật tự quản lý hành chính Nhà nước, cản trở việc thực hiện nhiệm vụ của những người đang thi hành công vụ, làm tăng tình trạng coi thường kỷ cương, pháp luật. Hành vi của bị cáo gây mất trật tự trị an ở địa phương. Do đó cần phải xử lý bị cáo bằng một hình phạt thỏa đáng cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội và răn đe giáo dục, phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, cần xem xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã bồi thường xong cho ông Ung Xuân H nên xem xét giảm cho bị cáo một phần về hình phạt theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhân thân tốt nên áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 xử bị cáo dưới khung hình phạt.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi xự việc xảy ra, anh Nguyễn Văn Hồng P, Khấu Gia H, Ung Xuân H có đơn từ chối giám định thương tích. Ph2 và H1 không có yêu cầu bồi thường gì nên không xét đến. Riêng đối với ông H yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền điều trị thương tích là 6.000.000 đồng, tại phiên tòa bị cáo và ông H đã tự nguyện thỏa thuận bị cáo bồi thường cho ông H số tiền điều trị thương tích là 6.000.000đồng, đã giao nhận tiền xong, ông H không có yêu cầu gì thêm nên áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 590 Bộ luật dân sự năm 2015 ghi nhận không xét đến.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về việc quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hoàng Tiến P phạm tội "Chống người thi hành công vụ".
Căn cứ khoản 1 Điều 330, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Tiến P 05 (năm) tháng 27 (hai mươi bảy) ngày tù, thời gian tù được tính từ ngày 06-02-2022.
Áp dụng Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Nguyễn Hoàng Tiến P, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Nguyễn Hoàng Tiến P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Tòa án nhân dân tỉnh Long An;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Sở tư pháp tỉnh Long An;
- Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức;
- Cơ quan Cảnh sát điều tra huyện Bến Lức;
- Nhà tạm giữ công an huyện Bến Lức;
- Chi cục thi hành án dân sự huyện Bến Lức;
- Người tham gia tố tụng;
Lê Hùng Cường
- Lưu hồ sơ, lưu án văn.
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân tỉnh Long An; - Sở tư pháp tỉnh Long An; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức; - Cơ quan Cảnh sát điều tra huyện Bến Lức; - Nhà tạm giữ công an huyện Bến Lức; - Chi cục thi hành án dân sự huyện Bến Lức; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ, lưu án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Hùng Cường |