vanban.org

Bản án 101/2020/HSPT — Hình sự

TAND cấp cao tại Hà Nội Tuyên án 11/03/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 11/03/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo; giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm; cụ thể:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng C phạm 02 tội là: Tội “Gây rối trật tự công cộng” và tội “Chống người thi hành công vụ”. Bị cáo Nguyễn Trọng C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Trọng C - Chống người thi hành công vụ - phạm tội chống người thi hành công vụ (điều 330 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo; giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm; cụ thể:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 318 Bộ luật Hình sự; Điều 330 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 101/2020/HSPT
Ngày 11/3/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Hồng P;

- Các Thẩm phán: + Ông Thái Duy N;

+ Bà Vũ Thị Thu H;

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh N, Thư ký của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Vũ Hồng Đ, Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 11 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 831/2019/TLPTHS ngày 18 tháng 10 năm 2019 do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 102/2019/HSST ngày 12/9/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh T.

Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Trọng C, sinh ngày 22/9/1987; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại số nhà 04/12/179 N, phường Đ, thành phố T, tỉnh T; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa phổ thông: 12/12; con ông Nguyễn Trọng V, sinh năm 1950 và bà Lê Thị S, sinh năm 1958; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con út; vợ là Vũ Quỳnh T, sinh năm 1986; có 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 29/5/2019 đến ngày 18/6/2019, sau đó được thay thế bằng biện pháp "Cấm đi khỏi nơi cư trú"; có mặt tại phiên tòa.

TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 14/02/2019, anh Đinh Xuân T, sinh năm 1977 trú tại số nhà 03B/146 T, phường N, thành phố T được người dân thông báo về việc chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota Corolla Altis BKS 36A-011.42 của mình đang đỗ tại ngõ 179 đường N, phường , thành phố T xịt sơn bẩn quanh xe nên anh T cùng bạn bè ra xem. Tại đây, nhiều người dân hiếu kỳ đứng xung quanh và bàn tán. Cùng lúc này, Nguyễn Trọng C, sinh năm 1987, trú tại số nhà 04/12/179 N, phường Đ, thành phố T đi xe đạp qua rồi về nhà. Một lúc sau C đi từ trong ngõ nhà mình ra trên tay cầm 01 gậy gỗ, miệng chửi bới “Đ. mẹ tụi bay cút hết, biến hết”, “Tao xịt sơn đấy, có giỏi thì đánh tao đi”, “Tao là người xịt sơn lên xe đấy, bay làm đéo gì được tao”, đồng thời C dùng gậy xua đuổi những người đang đứng xung quanh xe. Thấy có người nói sẽ gọi điện cho Công an phường Đ xuống giải quyết thì C tỏ thái độ hung hăng, chửi bới, thách thức “Đ. mẹ Công an phường”, “Đ. mẹ Trưởng Công an phường”…

Lúc này có anh Nguyễn Trọng C, sinh năm 1982 trú tại số 58K N, phường Đ, thành phố T (anh em họ với C) đã can ngăn và ôm, đẩy C về nhà. C dùng chân tay đánh anh C, rồi dùng cán chổi lau nhà bằng inox chạy ra đuổi đánh làm anh C bỏ chạy. C tiếp tục ra ngoài đầu ngõ 12/179 N gây sự, xua đuổi làm những người xung quanh phải bỏ chạy ra ngoài đầu ngõ 179 để tránh va chạm với C.

Anh Nguyễn Trọng C quay lại khuyên can, đưa C về nhà, nhưng C càng hung hăng hơn và chạy xuống dưới bếp của nhà mình lấy 02 con dao cầm mỗi tay 01 con dao đi ra ngoài. Thấy C cầm dao nên anh C và mọi người xung quanh hoảng sợ phải bỏ chạy. Cùng lúc này, có 02 cán bộ Công an phường Đ được lãnh đạo Công an phường điều đến để giải quyết vụ việc, thấy có Công an (mặc áo cảnh phục) đến, C cảng tỏ thái độ hung hăng hơn, 02 tay cầm 02 con dao tiến về phía các đồng chí Cảnh sát để thách thức và chửi bới “Đ. mẹ bay gọi hết Công an phường xuống đây”, “Gọi cả thằng P - Trưởng Công an Phường xuống đây, tau chém hết”. Mặc dù được thuyết phục bỏ dao xuống và hợp tác giải quyết vụ việc nhưng C không chấp hành mà còn dùng dao chém 01 nhát vào nắp ca bô của xe ô tô BKS 36A-011.42. Do không thể thuyết phục được C nên Công an phường Đ đã điện báo và đề nghị Lực lượng CS113 của Công an thành phố T đến hỗ trợ.

Trong lúc đợi lực lượng đến hỗ trợ nên Công an phường Đ khuyên người dân xung quanh di chuyển khỏi khu vực hiện trường nhằm tránh va chạm với C. Lúc này, C cầm 02 con dao đi vào nhà ông Lê Nguyên B ở số 17/179 N ngồi hút thuốc lào.

Khoảng 20 giờ 30’ cùng ngày, khi lực lượng CS113 Công an thành phố T có mặt tại hiện trường và cùng phối hợp Công an phường Đ mời C ra ngoài để làm việc nhưng C không chấp hành. Do gọi nhiều lần C không hợp tác nên CS113 đã triển khai đội hình. Đồng chí Nguyễn Khải T và Hoàng Anh S cầm lá chắn đứng trước, Đồng chí Phạm Văn T cầm súng Ak đứng giữa phía sau cùng di chuyển áp sát cửa cổng nhà ông B và tiếp tục yêu cầu C chấp hành hiệu lệnh của Lực lượng đang thực thi nhiệm vụ. Thấy có lực lượng CS113 áp sát cửa cổng nên C đứng dậy đi nhanh từ trong nhà ông B ra, hướng về phía đội hình của CS113 thách thức, chửi bới “Bay dẹp hết ra ngoài, tau đéo làm chi cả, bay bắn đi, bắn đi” đồng thời C trên mỗi tay cầm 01 con dao tiến về phía trước buộc lực lượng CS113 phải lùi sâu vào ngõ 179 N (ngõ cụt). Vừa lùi, CS113 vừa cảnh báo “Tôi yêu cầu anh bỏ dao xuống” nhưng C không chấp hành mệnh lệnh mà còn tiếp tục tiến nhanh hơn, đồng thời dùng dao chém về phía trước buộc CS113 phải giơ khiên chắn lên đỡ, dao của C đã chém trúng khiên.

Khi lực lượng CS113 lùi sát đến chân tường nhà ông Lê Nguyên H ở số 19/179 N, một bên là người dân đang đứng. Xác định không còn đường lùi và hành động của C vẫn đang tiếp diễn (hung hăng cầm dao tiến nhanh về phía lực lượng), hành động này có thể gây nguy hiểm cho người dân xung quanh và cho chính lực lượng đang thực thi công vụ, nên Cảnh sát đã nhắm bắn vào đùi C và đưa C đi Bệnh viện cấp cứu.

Tại Biên bản khám nghiệm hiện trường vào hồi 21 giờ 45’ ngày 14/02/2019 thể hiện: Hiện trường được xác định tại trước số nhà 17/179 đường N, phường Đ, thành phố T; hiện trường đã bị xáo trộn một phần do người và phương tiện giao thông đi lại. Ngõ 179 có chiều rộng 3,1m, mặt đường được rải nhựa bằng bê tông xi măng. Đi hướng Đông là nhà dân và ngõ cụt; đi hướng Tây là đường N. Hiện trường trung tâm được xác định trước cổng nhà số 19 đến số 02/179 đường N. Lấy mép ngoài cạnh cổng phía Tây Nam của trụ cổng hướng Đông số nhà 19/179 làm mốc cố định, lấy mép đường ngỗ 179 phía Bắc làm chuẩn để tiến hành đo đạc, khám nghiệm.

Vết 1: Cách điểm mốc cố định về hướng Tây Bắc 1,6m trên mặt sân số nhà 19/179 là 01 vỏ kim loại đạn màu vàng, vị trí này cách mép chuẩn 1,4m. Vỏ kim loại đạn có chiều dài 3,8cm, đường kính miệng là 0,8cm, đường kính đáy là 4,1cm. Ở dưới đáy có ghi hàng chữ số 711-76, phần tâm đáy (phần hạt nổ) có vết tỳ núng là 0,1cm;

Vết 2: Cách vết 1 về phía Nam 2m, cách mép chuẩn 0,6m trên mặt đường ngõ 179 là vị trí chất màu nâu đỏ (nghi máu) nằm rải rác dạng nhỏ giọt, nhiều chỗ đã bị phủ cát không ổn định, kéo dài 70m từ trước số nhà 19 đến số nhà 02/179.

Vết 3: Trước số nhà 19 trên đường ngõ 179 là vị trí xe ô tô BKS 36A-011.42 đang đỗ. Đầu xe quay hướng Tây, đuôi xe về hướng Đông, tâm trục bánh trước bên phải cách mốc cố định về hướng Tây Bắc 2,3m, cách điểm chuẩn 2m. Tại mặt ngoài tấm kính chắn gió trước, nắp ca bô trước và toàn bộ phần bên phải gồm cánh cửa trước sau, nắp ca bô trước, tai xe trước sau, kính chắn gió cánh cửa trước sau bám dính nhiều chất màu trắng (dạng sơn) không liên tục, không rõ hình.

Mặt ngoài nắp ca bô trước có 01 vết cà xước kim loại kích thước 0,1cm x 24cm, vết có chiều từ trên xuống dưới, vị trí gần nhất cách đầu mui xe bên phải 66cm. Thu 01 vỏ đạn kim loại đồng màu vàng dài 3,8cm, ở đáy có số 711- 76.

* Tại biên bản khám phương tiện xe ô tô BKS 36A-011.42 hồi 15 giờ 00’ ngày 18/02/2019 thể hiện:

1. Toàn bộ mặt ngoài đầu xe, nắp cabô trước, mặt ngoài kính trắn gió trước; Toàn bộ mặt ngoài thân xe bên phải: Mặt ngoài đuôi xe có bám dính chất màu trắng (dạng phun xịt nghi sơn).

2. Mặt trên mắp cabô trước, cách đầu mút bên phải 66cm có vết cà làm tróc sơn màu đen núng kim loại kích thước 24cm x 0,1cm, vết có chiều từ trên xuống dưới, vết cao hiện tại so với mặt đất từ 79cm - 82cm.

3. Cách vết (2) 18 cm về bên trái mặt trên nắp cabô trước có vết cà trượt làm sước sơn màu đen, trắng kích thước 14cm x 3cm. Vết có chiều từ trên xuống dưới, chếch từ sau về trước, vết cao hiện tại 74cm - 77cm.

Ngày 03/4/2019, anh Đinh Xuân T có đơn đề nghị không giám định thiệt hại về tài sản do hành vi của Nguyễn Trọng C gây ra.

* Tại biên bản xem xét dấu vết trên thân thể đối với Nguyễn Trọng C hồi 23 giờ 00’ ngày 14/02/2019 cụ thể: Vết thương vùng đùi trái: Mặt trước đùi trái có vết thương kích thước xấp xỉ 0,5cm hình tròn chảy máu. Mặt sau đùi trái cách kheo 15cm, kích thước vết thương xấp xỉ 1,5cm, chảy máu. Ngoài ra không còn vết thương nào khác

* Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 247/2019/TTPY của Trung tâm pháp y - Sở y tế tỉnh T kết luận: “Tại thời điểm giám định pháp y về thương tích tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với Nguyễn Trọng C được tính theo phương pháp xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể là 29%.”.

* Thu giữ mẫu máu của Nguyễn Trọng C và tiến hành Trưng cầu giám định. Kết luận giám định số 22/MT-PC09 ngày 20/02/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh T kết luận:

“- Mẫu máu thu của Nguyễn Trọng C gửi giám định không tìm thấy thành phần ma túy thường gặp. Mẫu máu thu của Nguyễn Trọng C gửi giám định có nồng độ cồn là 104,75mg/100ml máu” .

* Các vật chứng thu giữ và các Kết luận giám định:

- 01 con dao có chiều dài 35,5cm; phần lưỡi bằng kim loại màu xám, loại một lưỡi sắc dài 23cm, đầu bằng, chiều rộng không đều nhau, chỗ rộng nhất của lưỡi 9,6cm, chỗ dày nhất của sống 03mm; phần tay cầm (chuôi) bằng gỗ màu vàng dài 12,5cm.

- 01 dao có chiều dài 39cm; phần lưỡi bằng kim loại màu xám, loại một lưỡi sắc dài 25cm, đầu bằng chiều rộng không đều nhau, chỗ rộng nhất của lưỡi 06cm, chỗ dày nhất của sống 5,5mm; phần tay cầm (chuôi) bằng kim loại và gỗ dài 12,5cm.

- 01 lá chắn có số kí hiệu “CSCĐS.X TẠI P8 VIỆN KỸ THUẬT- CA 1997”, phần lá chắn có kích thước 82,2cm x 50,5cm x 0,4cm, phần tay cầm bằng nhựa màu đen, tại mặt ngoài lá chắn có 01 vết nứt không rõ hình, kích thước 8,5cm x 1cm, trung tâm vết nứt cách mép trên của lá chắn 16cm, cách mép bên phải lá chắn 34,5cm, phần trên của vết nứt có bờ mép sắc gọn.

+ Kết luận giám định số 617/PC09 ngày 05/3/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh T kết luận: “02 dao gửi đến giám định có thể tạo ra vết nứt tại mặt ngoài lá chắn gửi đến giám định". 01 vỏ đạn bằng kim loại màu đồng dài 3,8cm, đường kính đáy 1,1cm, đường kính miệng 0,8cm, đáy có ký hiệu 711-76. 01 khẩu súng quân dụng AK, số súng KX3901. 01 hộp tiếp đạn (không có đạn). 01 Giấy phép sử dụng số 3818000153/GP.

+ Kết luận giám định số 867/PC09 ngày 22/3/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh T kết luận: “01 vỏ đạn hình chai bằng kim loại màu đồng có số kí hiệu 711-76 gửi đến giám định được bắn ra từ khẩu súng tiểu liên AK có kí hiệu KX3901 gủi đến giám định”.

- Hồi 23 giờ 30’ ngày 14/02/2019, anh Nguyễn Mạnh H cán bộ Công an phường Đ giao nộp: 01 đoạn video clip độ dài 53 giây, có dung lượng là 79,4mb; đoạn video được lưu trữ trong 01USB kim loại màu xám.

- Ngày 05/3/2019, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T có Công văn số 139/PC09, phân tích đoạn video do anh Nguyễn Mạnh H cung cấp xác định: Không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa trong đoạn video.

Vật chứng thu giữ:

- 01 đoạn video clip độ dài 53 giây, có dung lượng là 79,4mb; đoạn video được lưu trữ trong 01USB kim loại màu xám.

- 01 con dao có chiều dài 35,5cm; phần lưỡi bằng kim loại màu xám, loại một lưỡi sắc dài 23cm, đầu bằng, chiều rộng không đều nhau, chỗ rộng nhất của lưỡi 9,6cm, chỗ dày nhất của sống 03mm; phần tay cầm (chuôi) bằng gỗ màu vàng dài 12,5cm.

- 01 dao có chiều dài 39cm; phần lưỡi bằng kim loại màu xám, loại một lưỡi sắc dài 25cm, đầu bằng chiều rộng không đều nhau, chỗ rộng nhất của lưỡi 06cm, chỗ dày nhất của sống 5,5mm; phần tay cầm (chuôi) bằng kim loại và gỗ dài 12,5cm.

- 01 vỏ đạn bằng kim loại màu đồng dài 3,8cm, đường kính đáy 1,1cm, đường kính miệng 0,8cm, đáy có ký hiệu 711-76.

- 01 lá chắn có số kí hiệu “CSCĐS.X TẠI P8 VIỆN KỸ THUẬT-CA 1997”, phần lá chắn có kích thước 82,2cm x 50,5cm x 0,4cm, phần tay cầm bằng nhựa màu đen, tại mặt ngoài lá chắn có 01 vết nứt không rõ hình, kích thước 8,5cm x 1cm, trung tâm vết nứt cách mép trên của lá chắn 16cm, cách mép bên phải lá chắn 34,5cm, phần trên của vết nứt có bờ mép sắc gọn. (Các vật chứng này hiện đang quy trữ tại Cục thi hành án dân sư tỉnh T ).

- 01 khẩu súng quân dụng AK, số súng KX3901.

- 01 hộp tiếp đạn (không có đạn).

- 01 Giấy phép sử dụng số 3818000153/GP.

(Các vật chứng này sau khi tiến hành giám định, Cơ quan điều tra đã trả lại cho Lực lượng CS113 Đội CSTT-CĐ Công an thành phố T).

Về dân sự: Chiếc xe ô tô BKS 36A-011.42 của anh Đinh Xuân T bị Nguyễn Trọng C dùng sơn xịt bẩn và dùng dao chém vào nắp ca bô. Ngày 03/4/2019, Đinh Xuân T có đơn đề nghị không giám định thiệt hại về tài sản và không yêu cầu bồi thường.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 102/2019/HSST ngày 12/9/2019, Tòa án nhân dân tỉnh T tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng C phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” và “Chống người thi hành công vụ”.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; khoản 1 Điều 330; điểm s; t khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38; Điều 54 và Điều 55 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trọng C 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” và 06 (Sáu) tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”. Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 18 (Mười tám) tháng tù, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 29/5/2019 đến ngày 18/6/2019. Thời gian chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bắt đi thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 25/9/2019, bị cáo Nguyễn Trọng C kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử cho bị cáo được giảm hình phạt và được hưởng án treo.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa, ý kiến tranh luận của bị cáo.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ NHẬN ĐỊNH VỀ VỤ ÁN:

[1] Tại phiên tòa sơ thẩm cũng như phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi như cấp sơ thẩm đã quy kết. Những lời khai nhận của bị cáo đều thống nhất, phù hợp trong suốt quá trình điều tra, những người làm chứng; biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu; biên bản hiện trường cùng bản ảnh hiện trường; biên bản khám nghiệm phương tiện xe ô tô; biên bản xem xét dấu vết trên thân thể; Kết luận giám định pháp y về thương tích; biên bản quan sát camera và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, cho nên Hội đồng xét xử phúc thẩm có đủ căn cứ xác định:

Chiều tối ngày 14/2/2019, Nguyễn Trọng C có biểu hiện say rượu (Kết luận giám định: nồng độ cồn trong máu của C là 104,75mg/100ml máu) nên khi thấy Chiếc xe ô tô BKS: 36A-011.42 của anh Đinh Xuân T đỗ ở trong ngõ 179 N, phường Đ, thành phố T, C đã dùng sơn trắng xịt lên toàn bộ thân xe phía bên phải, phần đuôi xe và nắp ca bô đầu xe. Khi anh T và người dân phát hiện sự việc, đứng nói chuyện, bàn tán thì C chửi bới, đồng thời cầm 02 con dao thách thức, đe dọa người đi đường, những người xung quanh và dùng dao chém vào nắp cabô của xe ô tô. Khi lực lượng Công an phường Đ và sau đó là lực lượng CS113 đến hiện trường, đã kêu gọi và thuyết phục C bỏ dao xuống hợp tác làm việc, tuy nhiên C không chấp hành mà còn cầm dao tiếp tục chửi bới, thách thức CS113 và Công an phường, buộc lực lượng CS113 phải lùi xa hiện trường. C tiếp tục cầm dao đi theo và dùng dao tấn công chém vào lá chắn của lực lượng CS113. Để tránh việc C sẽ gây nguy hiểm cho mọi người xung quanh cũng như lực lượng đang thi hành nhiệm vụ. Lực lượng Cảnh sát 113 đã nổ súng bắn vào đùi trái C, khi đó mới khống chế được C. Với hành vi như trên, Tòa án cấp sơ thẩm quy kết bị cáo về 02 tội là “Gây rối trật tự công cộng” và “Chống người thi hành công vụ” theo điểm b khoản 2 Điều 318 và khoản 1 Điều 330 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

[2]. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy: Khi xem xét quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và xác định: Bị cáo thành khẩn khai báo; nhân thân chưa có tiền án tiền sự; vợ bị cáo không có việc làm ổn định, có hai con đang còn nhỏ; bị cáo đã tham gia nghĩa vụ, phục vụ trong lực lượng Công an nhân dân, có bố đẻ và mẹ đẻ được tặng thưởng nhiều Huân, Huy chương. Trong quá trình tại địa phương, bị cáo đã cung cấp nhiều thông tin quan trọng cho Công an tỉnh T triệt phá thành công tụ điểm tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại quán Karaoke Galaxy thuộc thôn 3, xã Q, huyện Q, tỉnh T, cho nên Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm đã xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự có khung hình phạt từ 02 năm đến 07 năm tù, tại khoản 1 Điều 330 của Bộ luật Hình sự có khung hình phạt từ 06 tháng đến 03 năm tù. Theo hướng phân tích như trên, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” và 06 (Sáu) tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ” trong trường hợp này là có phần nhẹ. Tại phiên tòa phúc thẩm không thấy bị cáo có thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới đáng kể, cho nên Hội đồng xét xử phúc thẩm cũng đồng tình như quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa, cần bác kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[4] Về án phí phúc thẩm: Bị cáo có kháng cáo nhưng không được Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận cho nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

QUYẾT ĐỊNH:

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo; giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm; cụ thể:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng C phạm 02 tội là: Tội “Gây rối trật tự công cộng” và tội “Chống người thi hành công vụ”.

2. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; khoản 1 Điều 330; điểm s; t khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38; Điều 54 và Điều 55 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trọng C 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” và 06 (Sáu) tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 18 (Mười tám) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bắt đi thi hành án, được trừ thời gian đã tạm giam từ ngày 29/5/2019 đến ngày 18/6/2019.

3. Bị cáo Nguyễn Trọng C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ