vanban.org

Bản án 61/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Bác đơn khởi kiện của ông Giao Văn H về việc xin thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số: 326/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016, của Ủy bA thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án. Ông Giao Văn H phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nH được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn, tranh chấp nuôi con chung"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Bác đơn khởi kiện của ông Giao Văn H về việc xin thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
  • Căn cứ chính? Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án
TÒA ÁN N HÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH TRÀ VINH
_________________________________________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 19 - 8 - 2022
V/v TrAh chấp về thay đổi người
trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

NHÂN DAH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TRÀ VINH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Diệp Hng Tân

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Thạch ThAh Sơn

Bà Thi Thị ThAh Trúc

-Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Huê, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Thòn, Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 328/2022/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 6 năm 2022 về việc “Xin thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 85/202/QĐXXST-HNGĐ, ngày 28 tháng 7 năm 202, giữa các đương sự:

-Nguyên đơn: Ông Giao Văn H, sinh năm 1990

Địa chỉ: ấp Long H 1, xã Hòa M, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.

-Bị đơn: Bà Kiên Thị Mỹ T, sinh năm 1992

Địa chỉ: ấp Phú N, xã Mỹ C, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Ông H Văn Giao là nguyên đơn trình bày: Vào năm 2020 bà T làm đơn khởi kiện ra Tòa xin ly hôn về con chung thống nhất giao cháu Giao Cát Tường A, sinh ngày 10/12/2017 cho bà T nuôi dưỡng, ông không phải cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn ông nhiều lần đến thăm con nH không gặp được con, do bà T đi làm ở công ty để cháu A cho bà Võ Thị Âu trông coi, khi ông đến thăm con thì bị bà Âu mắng chửi bằng những lời lẽ thô tục, còn giấu cháu A không cho ông gặp mặt. Ngoài ra trước khi đến thăm cháu A ông có điện thoại cho bà T trước thì bà T trả lời cháu A không có ở nhà.

Nay ông yêu cầu xin thay đổi người nuôi con, ông không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con.

Bị đơn bà Kiên Thị Mỹ T là bị đơn trình bày tại phiên tòa: Năm 2020 bà được tòa án giải quyết cho ly hôn Giao Văn H và được giao quyền nuôi con chung tên Giao Cát Tường A, sinh ngày 10/12/2017, ông Giao Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con, ông H được quyền tới thăm chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản.

Sau khi ly hôn ông H có đến thăm con nH không vào nhà mà đứng ở ngoài bờ kênh.

QuA điểm của Kiểm sát viên về tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa:

Từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử: Tòa án thụ lý đúng thẩm quyền, xác định đúng người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ, hòa giải, cấp tống đạt Văn bản tố tụng, thời hạn chuẩn bị xét xử đúng quy đinh.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.

Đối với các đương sự; nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng quy định pháp luật.

Về nội dung vụ án: Nhận thấy từ khi ly hôn và được giao quyền nuôi con chung, bà T đã chăm sóc con chung rất chu đáo, cháu Giao Cát Tường A hiện có cuộc sống ổn định, phát triển bình thường về tâm sinh lý và được đến trường học như bao đứa trẻ khác. Riêng ông Giao Văn H là tài xế xe thường xuyên đi xa do đó không đảm bảo cho việc chăm sóc con chung, để ổn định đời sống sinh hoạt cho cháu A.

Căn cứ khoản 3 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, 228, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình và Nghị quyết số: 326/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016, của Ủy bA thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Bác đơn yêu cầu khởi kiện của ông Giao Văn H.

Về án phí: Ông Giao Văn H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong H sơ được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả trAh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.

Về tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa, căn cứ khoản 1, Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử.

Về quA hệ trAh chấp: Vụ án “TrAh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”, căn cứ khoản 3 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Tại phiên tòa hôm nay, ông Giao Văn H và bà Kiên Thị Mỹ T

vẫn giữ nguyên yêu cầu, không có thay đổi bổ sung sửa chữa gì thêm so với yêu cầu khởi kiện bA đầu.

Nhận thấy, theo lời trình bày của nguyên đơn, bị đơn tại phiên tòa, vào ngày 11/12/2020 ông, bà được Tòa án giải quyết cho ly hôn bằng Quyết định công nhận thuận tình ly hôn, về con chung giao cho bà Kiên Thị Mỹ T nuôi dưỡng, ông Giao Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con, nH ông H được quyền tới thăm chăm sóc giáo dục con chung, không ai có quyền ngăn cản.

Sau khi ly hôn ông Giao Văn H đã nhiều lần đến thăm con đồng thời còn được tạo điều kiện thuận lợi cho chở con chung về thăm ông, bà nội.

Sau một thời giA ông H tiếp tục đến thăm con nH lần này ông H không chịu vào nhà mà đứng ngoài hàng rào và bờ kênh yêu cầu bà T đưa cháu Giao Cát Tường A ra ngoài cho ông thăm con nên bà T không chấp nhận.

Ngày 07/6/2022 ông Giao Văn H làm đơn khởi kiện yêu cầu xin thay đổi người trực tiếp nuôi con chung với lý do ông đã nhiều lần đến thăm con nH bà T và bà Võ Thị Âu mẹ bà T chưởi mắng thậm tệ không cho vào nhà thăm con.

Tại phiên tòa hôm nay bà Kiên Thị Mỹ T nại ra sau khi ly hôn ông Giao Văn H đã nhiều lần đến thăm con chung đồng thời bà còn tạo mọi điều kiện thuận lợi cho ông H chở con chung về thăm ông, bà nội. Sau một thời giA ông H tiếp tục đến thăm con nH lần này ông H không chịu vào nhà mà đứng ngoài hàng rào và bờ kênh nên bà T không chấp thuận cho ông H thăm con.

Xét đơn khởi kiện yêu cầu xin thay đổi người trực tiếp nuôi con của ông Giao Văn H là không có căn cứ chấp nhận. Vì kể từ khi ly hôn và được giao quyền nuôi con chung, bà T đã chăm sóc con chung rất chu đáo, cháu Giao Cát Tường A hiện có cuộc sống ổn định, phát triển bình thường về tâm sinh lý và được đến trường học như bao đứa trẻ khác. Qua xác M chính quyền địa phương nơi bà T cư trú được biết ông Giao Văn H đã nhiều lần đến thăm con đều được bà T tạo điều kiện thuận lợi nH lần sau cùng ông H đến thăm con không biết lý do vì sao ông H không chịu vào nhà mà đứng ngoài bờ kênh và yêu cầu bà T đưa con ra ngoài cho ông thăm nên bà T không đồng ý.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận.

Căn cứ điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình.

Xét đơn khởi kiện yêu cầu xin thay đổi người trục tiếp nuôi con của ông Giao Văn H là không có cơ sở để chấp nhận.

Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số: 326/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016, của Ủy bA thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

Ông Giao Văn H phải nộp 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Bởi các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 3 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình.

Tuyên xử: Bác đơn khởi kiện của ông Giao Văn H về việc xin thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số: 326/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016, của Ủy bA thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

Ông Giao Văn H phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nH được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số: 0011210 ngày 09/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.

Án sơ thẩm xét xử công khai, báo cho ông Giao Văn H và bà Kiên Thị Mỹ T biết, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, để xin Tòa án cấp trên xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm Phán-Chủ Tọa Phiên Tòa

Cỡ chữ