vanban.org

Bản án 61/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau Tuyên án 09/09/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Luật các tổ chức tín dụng; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng A. Buộc ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị H phải có nghĩa vụ hoàn trả lại cho Ngân hàng A tổng số tiền vốn và lãi bằng 60.894.500 đồng (trong đó: Nợ gốc 50.000.000 đồng, nợ lãi 10.894.500 đồng tính đến ngày 08 tháng 9 năm 2022). Ngoài khoản tiền nợ gốc, … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa Ngân hàng A với ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị H"
  • Tòa quyết gì? Luật các tổ chức tín dụng; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NĂM CĂN
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2022/DS-ST
Ngày 09-9-2022
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Kiên.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Quốc Thống.

Ông Vũ Xuân Chính.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Tú Hương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Năm Căn.

Ngày 09 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Năm Căn xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 77/2022/TLST - DS ngày 31 tháng 5 năm 2022 về “tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2022/QĐXXST – DS ngày 01 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng A.

Địa chỉ: Tòa nhà C, phường HL, quận HM, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Dương Thế H – Chức vụ: Giám đốc Phòng giao dịch Ngân hàng A huyện Năm Căn (vắng mặt).

Địa chỉ: Khóm A, thị trấn NC, huyện NC, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn:

+ Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1969 (vắng mặt).

+ Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1971 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: ấp KB, xã TGĐ, huyện NC, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện ngày 25/5/2022 và tại đơn xin vắng mặt ngày 08/9/2022, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Căn cứ hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị H (người thừa kế) với Phòng giao dịch Ngân hàng A chi nhánh huyện Năm Căn cụ thể như sau: Số khế ước vay tiền 6600000713444366 ngày 10/8/2018 với số tiền vay 50.000.000 đồng, hạn trả ngày 22/8/2023, lãi suất 9%/năm, lãi suất quá hạn 11,7%/năm. Số tiền còn nợ đến ngày 08/9/2022: tiền gốc 50.000.000 đồng, tiền lãi là 10.894.500 đồng.

Sau khi vay ông C và bà H không thực hiện nghĩa vụ của mình như hợp đồng đã ký kết. Do đó, nay Ngân hàng A kiện ông C và bà H phải hoàn trả lại 50.000.000 đồng tiền nợ gốc, tiền lãi đến ngày 08/9/2022 là 10.894.500 đồng, tổng cộng phải thanh toán bằng 60.894.500 đồng.

- Bị đơn ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt và không có ý kiến, yêu cầu gì đối với nội dung nguyên đơn khởi kiện.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Ông Hào vắng mặt có đơn xin vắng mặt; ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị H được Tòa án tống đạt hợp lệ đến lần thứ 02 để tham gia hòa giải, phiên tòa sơ thẩm nhưng vắng mặt không rõ lý do. Căn cứ khoản 1 Điều 207, khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án không hòa giải được và Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định.

Về nội dung: Nguyên đơn khởi kiện cho rằng ngày 10/8/2018 ông C và bà H vay 50.000.000 đồng, hạn trả ngày 22/8/2023, lãi suất 9%/năm, lãi suất quá hạn 11,7%/năm theo khế ước vay tiền số 6600000713444366. Quá trình vay cho đến nay vợ chồng ông C không thực hiện nghĩa vụ, vi phạm hợp đồng nên kiện đòi lại tiền vốn và lãi suất. Chứng cứ nguyên đơn giao nộp cho Tòa án gồm: “Sổ vay vốn” của Nguyễn Văn C; “Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay” ngày 31/7/2018 thể hiện Nguyễn Văn C vay 50.000.000 đồng, mục đích vay cải tạo vuông, nuôi tôm, hạn trả cuối cùng ngày 10/8/2023; Sổ lưu tờ rời theo dõi cho vay – thu nợ - dư nợ của Nguyễn Văn C thể hiện số tiền vay 50.000.000 đồng vào ngày 10/8/2018; Đơn đề nghị khởi kiện ra tòa ngày 24/5/2022 của Hội LHPN xã Tam Giang Đông. Khi Ngân hàng A khởi kiện tại Tòa án đòi lại số tiền trên thì ông C và bà H biết nhưng cho đến nay không có ý kiến phản bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đều này cho thấy ông C và bà H cũng đồng ý số nợ và trả nợ theo nội dung nguyên đơn khởi kiện. Như vậy, ông C và bà H có vay 50.000.000 đồng tại Ngân hàng và sau khi vay không thực hiện đúng hợp đồng đã ký kết. Do đó, nay nguyên đơn kiện đòi lại tổng vốn và lãi bằng 60.894.500 đồng là có căn cứ, được chấp nhận.

Về án phí: Do chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật số tiền 3.044.725 đồng (60.894.500 đồng x 5%).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 207, khoản 1, 3 Điều 228, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463, Điều 466, Điều 470 Bộ luật dân sự; Điều 91, Điều 95

-2-

Luật các tổ chức tín dụng; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng A. Buộc ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị H phải có nghĩa vụ hoàn trả lại cho Ngân hàng A tổng số tiền vốn và lãi bằng 60.894.500 đồng (trong đó: Nợ gốc 50.000.000 đồng, nợ lãi 10.894.500 đồng tính đến ngày 08 tháng 9 năm 2022).

2. Ngoài khoản tiền nợ gốc, lãi vay trong hạn, lãi vay quá hạn, phí mà khách hàng vay phải thanh toán cho bên cho vay theo hợp đồng tín dụng tính đến ngày ban hành bản án, thì kể từ ngày tiếp theo của ngày ban hành bản án khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo bản án của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay

3. Án phí dân sự ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị H phải chịu 3.044.725 đồng (chưa nộp).

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ