- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Nguyễn Trọng H"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 266; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU TP. ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 61/2022/DS-ST Ngày: 30 - 8 - 2022 “V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ngô Thị Hữu
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Trung Dũng
Ông Huỳnh Thanh Trà
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lành – Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
Ngày 30 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 87/2022/TLST-DS ngày 16 tháng 5 năm 2022 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2022/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 7 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 65/2022/QĐST-DS ngày 11 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty tài chính TNHH N. Địa chỉ: Tầng 2, Tòa nhà R, số 9 Đ, phường H, quận N, thành phố C.
Người đại diện theo pháp luật: Ông L, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng thành viên. Người đại diện theo ủy quyền của ông Giang: Bà Lê Thúy K, chức vụ: Trưởng Bộ phận hỗ trợ Xử lý tín dụng Ngoại bảng – Bộ phận Hỗ trợ xử lý tín dụng ngoại bảng – V. Địa chỉ: Tầng M, Tòa nhà Tòa nhà R, số 9 Đ, phường H, quận N, thành phố C. (Theo văn bản ủy quyền số 43 ngày 06/12/2021); bà Lương Hoàng Y, chức vụ: Trưởng phòng tố tụng - VPB SMBC FC (văn bản ủy quyền số 42/UQ-XLTD.22 ngày 18/3/2022).
Người đại diện theo ủy quyền của Công ty tài chính TNHH N: Công ty Luật TNHH MTV Sunlaw. Người đại diện theo ủy quyền của Công ty Luật TNHH MTV S: Ông Đinh Quốc T, cùng địa chỉ: 89 H, phường H, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng (Theo Giấy ủy quyền số 01/2022/UQ-SL ngày 01/4/2022). Có mặt.
Bị đơn: Ông Nguyễn Trọng H, sinh năm 1977. Địa chỉ: 101 Nguyễn Đức Cảnh, tổ 53, phường Thuận Phước, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Nguyên vào ngày 08/01/2019, ông Nguyễn Trọng H có ký hợp đồng tín dụng số 20190109-4901558 với Công ty tài chính TNHH MTV N để vay số tiền 31.650.000 đồng với lãi suất thoả thuận 3.08%/tháng để tiêu dùng cá nhân. Theo thỏa thuận trong hợp đồng, ông Nguyễn Trọng H có trách nhiệm thanh toán số tiền 52.566.432 đồng (gồm cả gốc và lãi), trả chậm liên tiếp trong vòng 36 tháng; 35 tháng đầu mỗi tháng trả 1.467.772 đồng, tháng cuối cùng trả 1.194.412 đồng. Bắt đầu từ ngày 05/02/2019.
Thực hiện hợp đồng, ông Nguyễn Trọng H đã nhận đủ số tiền để tiêu dùng cá nhân và thanh toán cho VPB SMBC FC 14 lần với tổng số tiền 19.410.000 đồng (chi tiết các lần thanh toán như bảng kê lịch sử thanh toán nộp kèm theo đơn khởi kiện), bao gồm 7.906.791 đồng nợ gốc và 11.503.209 đồng nợ lãi. Kể từ ngày 06/03/2020 đến nay, ông Nguyễn Trọng H không thanh toán thêm bất kỳ khoản nào dù Công ty đã dùng nhiều biện pháp nhắc nhở.
Do khách hàng trễ hạn thanh toán nên Công ty tài chính TNHH N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Trọng H trả một lần cho công ty toàn bộ số tiền nợ bao gồm nợ gốc 23.743.209 đồng, nợ lãi tính đến ngày 05/01/2022 là: 9.413.223 đồng, tổng cộng 33.156.432 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Đây là vụ án tranh chấp phát sinh từ Hợp đồng tín dụng giữa Công ty tài chính TNHH N (Nay là Công ty tài chính TNHH N V) (sau đây gọi tắt là VPB SMBC FC) viết tắt là (Công ty tài chính) với bị đơn ông Nguyễn Trọng H. Bị đơn có nơi cư trú tại quận Hải Châu nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hải Châu theo qui định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Ông Nguyễn Trọng H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.
Về nội dung tranh chấp:
Xét giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng ngày 08/01/2019 của Công ty tài chính TNHH N (Nay là Công ty tài chính TNHH N V) (sau đây gọi tắt là VPB SMBC FC) viết tắt là (Công ty tài chính), đây là hợp đồng vay tài sản, thỏa mãn các điều kiện của Hợp đồng theo quy định của Bộ luật dân sự và Luật các Tổ chức tín dụng nên có hiệu lực thi hành, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên tham gia giao dịch.
Xét yêu cầu khởi kiện của Công ty tài chính TNHH N (Nay là Công ty tài chính TNHH N V) (sau đây gọi tắt là VPB SMBC FC) viết tắt là (Công ty tài chính)
Tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Trọng H phải thanh toán toàn bộ số tiền nợ gốc 23.743.209 đồng, nợ lãi tính đến ngày 05/01/2022 là: 9.413.223 đồng, tổng cộng 33.156.432 đồng.
Hội đồng xét xử xét thấy: Theo thỏa thuận tại Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số 20190109-4901558 ngày 08/01/2019 ký kết giữa Công ty tài chính với ông Nguyễn Trọng H, theo đó Công ty tài chính đã cho ông Nguyễn Trọng H vay số tiền 31.650.000 đồng với lãi suất thoả thuận 3.08%/tháng để tiêu dùng cá nhân, thời hạn vay 36 tháng. Theo thỏa thuận, ông Nguyễn Trọng H có trách nhiệm thanh toán số tiền 52.566.432 đồng (gồm cả gốc và lãi), trả chậm liên tiếp trong vòng 36 tháng; 35 tháng đầu, mỗi tháng trả 1.467.772 đồng, tháng cuối cùng trả 1.194.412 đồng bắt đầu từ ngày 05/02/2019. Trong quá trình vay vốn, ông H đã thanh toán cho Công ty tài chính tổng cộng 14 lần với tổng số tiền 19.410.000 đồng bao gồm 7.906.791 đồng nợ gốc và 11.503.209 đồng nợ lãi tính đến ngày 05/3/2020. Kể từ ngày 06/03/2020 đến nay, ông Nguyễn Trọng H không thanh toán thêm bất kỳ khoản nào dù Công ty đã dùng nhiều biện pháp nhắc nhở.
Như vậy ông H đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán quy định tại Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng và Bản điều khoản điều kiện cho vay của Công ty tài chính TNHH N (Nay là Công ty tài chính TNHH N V). Do đó, căn cứ các điều 463, 466 của Bộ luật dân sự năm 2015, Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Nguyễn Trọng H phải thanh toán cho Công ty Tài chính TNHH N số tiền nợ gốc là: 23.743.209 đồng, nợ lãi là 9.413.223 đồng, tổng cộng là 33.156.432 đồng.
Về án phí:
Ông Nguyễn Trọng H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng: khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 266; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Áp dụng các điều 463, 466 của Bộ luật dân sự;
- Áp dụng Khoản 2 Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” của Công ty Tài chính TNHH N đối với ông Nguyễn Trọng H.
Xử:
1. Buộc ông Nguyễn Trọng H phải trả cho Công ty Tài chính TNHH N 33.156.432 đồng trong đó nợ gốc: 23.743.209 đồng nợ lãi: 9.413.223 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người có nghĩa vụ thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì phải chịu lãi suất đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
2. Về án phí: Ông Nguyễn Trọng H phải chịu 1.657.822 (Một triệu sáu trăm năm mươi bảy nghìn, tám trăm hai mươi hai) đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Công ty Tài chính TNHH N số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 828.910 (tám trăm hai mươi tám nghìn, chín trăm mười) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005758 ngày 06/5/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản sao bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND quận Hải Châu; - Đương sự; - Chi cục THA DS quận Hải Châu; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Hữu |