- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1/ Về luật áp dụng:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN Đ TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 61/2021/HSST Ngày 23 tháng 9 năm 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Viển.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Hoa; Bà Vương Thị Dung.
- Thư ký phiên tòa: Ông Quách Kim Lân– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ, Tòa án nhân dân huyện Đ đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 77/2021/TLST-HS ngày 17 tháng 6 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2021/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 7 năm 2021, Thông báo số 01/2021/TB-TA ngày 29/7/2021 về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa, Thông báo số 02/2021/TB-TA ngày 10/9/2021 về việc mở lại phiên tòa xét xử đối với bị cáo:
Họ và tên: Đặng Thị Kim N – sinh năm 1977 tại Quảng Trị.
Nơi cư trú: ấp T, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 5/12; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật; con ông Đặng Văn N (đã chết) và bà Võ Thị H – không rõ năm sinh; chồng là Lê Công T – sinh năm 1974 và 03 người con lớn nhất sinh năm 1997, nhỏ nhất sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt ngày 16/12/2020, tạm giữ đến ngày 25/12/2020 được áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay,“có mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 16 giờ 05 phút ngày 16/12/2020, tại nhà của Đặng Thị Kim N ở khu dân cư 7, ấp Thống Nhất, xã Phú Cường, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai Công an huyện Đ phối hợp với Công an xã Phú Cường bắt quả tang Đặng Thị Kim N đang đánh bạc trái phép thắng thua bằng tiền dưới hình thức “ghi số đề”, vật chứng thu giữ gồm:
- Số tiền: 1.300.000 đồng.
- 01 điện thoại Nokia màu đen thuê bao 0354692198.
- 02 cây viết bi mực xanh, 01 máy tính hiệu Casio.
Quá trình điều tra Đặng Thị Kim N khai nhận: Bị cáo buôn bán tạp hóa tại ấp Thống Nhất, xã Phú Cường, do buôn bán khó khăn nên khoảng đầu tháng 12/2020, N trực tiếp đánh bạc thắng thua bằng tiền, bằng hình thức “ghi số đề” với các người ghi số đề để thu lợi bất chính. Hàng ngày người ghi số đề có nhu cầu đánh bạc sẽ nhắn tin số cần đánh và số tiền đánh vào điện thoại Nokia màu đen có số thuê bao 0354692198 của N, sau đó để xác nhận đánh đề với người ghi số đề, N nhắn tin trả lời lại “Ok”, các tin nhắn được lưu lại trong điện thoại của N để làm căn cứ sau khi có kết quả xổ số để tính thắng thua. Trung bình mỗi ngày N nhận ghi số đề khoảng 04 đến 06 người chơi, với số tiền từ khoảng 7.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng. Khi đánh bạc thì N không trực tiếp gặp mặt người ghi số đề mà chỉ nhắn tin qua điện thoại và N không nhận tiền trước mà đến ngày hôm sau người ghi số đề đến gặp N để tính thắng thua.
Để khuyến khích người ghi số đề tham gia chơi, N thường giảm cho người ghi số đề từ 15% đến 20% số tiền ghi số đề, cách thức đánh bạc bằng hình thức “ghi số đề” như sau:
Đánh đầu, đuôi 02 số: Là đánh 02 số cuối giải tám và giải đặc biệt, tỷ lệ thắng ăn gấp 70 lần, số tiền các con bạc phải bỏ ra nhân hai lần, hoặc một lần nếu các con bạc chỉ đánh số đầu hoặc số đuôi.
Đánh bao lô 02 số: Đánh 02 số cuối trong lô 18, tỷ lệ thắng ăn gấp 70 lần, sau đó nhân với số lần trúng tương ứng xuất hiện trong bảng kết quả, số tiền con bạc bỏ ra mua đề nhân 18 lần.
Đánh bao lô 03 số: Đánh 03 số cuối của 17 lô xổ số của giải bảy đến giải đặc biệt, tỷ lệ thắng ăn gấp 500 lần, trúng tương ứng xuất hiện trong bảng kết quả, số tiền con bạc bỏ ra mua đề nhân 17 lần.
Đánh xỉu chủ 03 số: Đánh 03 số cuối trong lô đặc biệt và giải bảy, tỷ lệ thắng ăn gấp 500 lần, trúng tương ứng xuất hiện trong bảng kết quả, số tiền con bạc bỏ ra mua đề nhân 02 lần.
Đánh số đá: Là cặp số cuối trong 18 lô số, tỷ lệ thắng ăn gấp 600 lần, số tiền con bạc bỏ ra mua đề nhân 18 lần và số lần đá.
Nga sẽ phải chung số tiền người ghi số đề trúng theo quy định và trừ số tiền người ghi số đề mua số đề. Kết quả thắng thua dựa theo kết quả xổ số hàng ngày của xổ số các tỉnh phía Nam.
Vào ngày 16/12/2020, N đánh bạc bằng hình thức “ghi số đề” với người ghi số đề đài xổ số kiến thiết tỉnh Đồng Nai.
Căn cứ bản triết tính phơi đề ngày 16/12/2020 (Đài Đồng Nai) và căn cứ vào hướng dẫn của Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP ngày 22/10/2010 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, xác định tổng số tiền mà N đánh bạc với một số con bạc (không rõ nhân thân, lai lịch) bằng hình thức ghi số đề là 23.306.000 đồng.
Các tin nhắn các con bạc ghi số đề trước ngày 16/12/2020, sau khi tính thắng thua xong N đã xóa. Quá trình đánh bạc đến khi bị bắt quả tang, N thu lợi bất chính số tiền 1.000.000 đồng, nên đã tự nguyện giao nộp.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Đặng Thị Kim N đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình theo đúng nội dung vụ án nêu trên.
Tại bản cáo trạng số 59/CT-VKSĐQ ngày 07/6/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ đã truy tố bị cáo Đặng Thị Kim N về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ trình bày lời luận tội, đánh giá khách quan, toàn diện, đầy đủ những chứng cứ xác định có tội và giữ nguyên quyết định truy tố đề nghị HĐXX kết tội bị cáo theo toàn bộ nội dung cáo trạng. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội của bị cáo gây ra; nhân thân; những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nguyên nhân điều kiện phạm tội, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, 3 Điều 321, điểm i và điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 08 tháng đến 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; xử phạt bổ sung bị cáo từ 8.000.000đ đến 10.000.000đ.
Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị HĐXX xử lý vật chứng và những vấn đề khác của vụ án. Cụ thể: Tịch thu số tiền thu lợi bất chính là 1.000.000 đồng và 01 điện thoại Nokia màu đen thuê bao 0354692198 để sung vào ngân sách Nhà nước. Buộc bị cáo phải nộp số tiền đánh bạc là 23.306.000 đồng để tịch thu, nộp ngân sách nhà nước. Tịch thu tiêu hủy: 02 cây viết bi mực xanh, 01 máy tính hiệu Casio. Số tiền 1.300.000 đồng N dùng vào mục đích cá nhân không dùng vào việc đánh bạc, nên Cơ quan điều tra đã trao trả cho N. Đối với những người tham gia “ghi số đề” để đánh bạc thắng thua với Đặng Thị Kim N, Cơ quan điều tra đang xác minh nhân thân lai lịch, có kết quả xử lý sau.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, thống nhất về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo. Bị cáo không bào chữa và không có ý kiến tranh luận gì khác.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Đặng Thị Kim N không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Căn cứ để kết tội đối với bị cáo:
Tại phiên tòa, bị cáo Đặng Thị Kim N đã khai nhận tội; lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với bản cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ đã truy tố bị cáo nên Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 16 giờ 05 phút ngày 16/12/2020, tại nhà của Đặng Thị Kim N ở khu dân cư 7, ấp Thống Nhất, xã Phú Cường, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai Đặng Thị Kim N đã có hành vi đánh bạc trái phép thắng thua bằng tiền dưới hình thức “ghi số đề” với tổng số tiền dùng vào mục đích đánh bạc là 23.306.000 đồng. Do đó, hành vi của bị cáo Đặng Thị Kim N đã phạm vào tội “Đánh bạc”; tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Đánh bạc là tệ nạn xã hội, là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm khác nên pháp luật nghiêm cấm. Bị cáo Đặng Thị Kim N biết rõ điều này nhưng vì muốn thu lợi bất chính nên vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, làm ảnh hưởng xấu về an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Việc đưa ra xét xử và tuyên phạt bị cáo một hình phạt tương xứng để trừng phạt bị cáo vừa để răn đe phòng ngừa chung trong xã hội là cần thiết.
. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, còn xem xét việc bị cáo là phụ nữ, chưa có tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt, trình độ học vấn thấp nên hiểu biết về pháp luật có phần hạn chế, đã tự nguyện giao nộp số tiền thu lợi bất chính, có hoàn cảnh kinh tế khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
. Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.
. Về hình phạt:
. Về hình phạt chính: Xét tính chất và mức độ phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân cũng như việc bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Căn cứ vào Điều 65 Bộ luật hình sự và Điều 2, Điều 3 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng chế định án treo, không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã nơi cư trú giám sát, giáo dục cũng đủ tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.
. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn đã được chính quyền địa phương xác nhận nhưng căn cứ vào tính chất và mức độ phạm tội của bị cáo thì cũng cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 điện thoại Nokia màu đen thuê bao 0354692198 là công cụ dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.
- Đối với số tiền 1.000.000 đồng mà bị cáo N tự nguyện giao nộp là tiền thu lợi bất chính từ việc ghi số đề nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
- Căn cứ bảng triết tính phơi đề ngày 16/12/2020 xác định số tiền bị cáo N sử dụng vào mục đích đánh bạc bằng hình thức ghi số đề với những người ghi số đề là 23.306.000 đồng. Mặc dù, trong quá trình điều tra truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo cho rằng chưa nhận được số tiền 23.306.000 đồng từ việc ghi số đề nhưng bị cáo cũng không chứng minh được việc không nhận số tiền 23.306.000đ là không khách quan nên buộc bị cáo phải nộp số tiền 23.306.000 đồng để tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
- Đối với 02 cây viết bi mực xanh, 01 máy tính hiệu Casio dùng vào việc phạm tội, xét giá trị không lớn nên tịch thu tiêu hủy.
- Số tiền 1.300.000 đồng N dùng vào mục đích cá nhân không dùng vào việc đánh bạc, nên Cơ quan điều tra đã trao trả cho N là phù hợp.
. Về các vấn đề khác: Đối với những người tham gia “ghi số đề” để đánh bạc thắng thua với Đặng Thị Kim N, Cơ quan điều tra đang xác minh nhân thân lai lịch, có kết quả xử lý sau.
. Về án phí: Bị cáo Đặng Thị Kim N phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
. Xét quan điểm đề nghị về hình phạt chính, hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, các vấn đề khác, án phí của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1/ Về luật áp dụng:
Căn cứ vào khoản 1 và 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
2/ Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Đặng Thị Kim N phạm tội: “Đánh bạc”.
3/ Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đặng Thị Kim N 08 (tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Đặng Thị Kim N cho Ủy ban nhân dân xã Phú Cường, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 68 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Phạt bổ sung bị cáo Đặng Thị Kim N 10.000.000đ (Mười triệu đồng).
4/ Về xử lý vật chứng:
- Buộc bị cáo phải nộp lại số tiền đánh bạc trái phép là 23.306.000 đồng (Hai mươi triệu, ba trăm linh sáu nghìn đồng) để tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: số tiền 1.000.000 đồng và 01 điện thoại Nokia màu đen thuê bao 0354692198.
- Tịch thu tiêu hủy: 02 cây viết bi mực xanh, 01 máy tính hiệu Casio.
(Số tiền và vật chứng tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước và tịch thu tiêu hủy hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Định Quán theo biên lai thu tiền số 0002935 ngày 21/6/2021 và biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 21/6/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ).
5/ Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - Công an H. Đ; - VKSND H. Đ ; - CCTHADS H. Đ; - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai; - UBND cấp xã; - Những người tham gia tố tụng; - Hồ sơ thi hành án; - Lưu AV, HS; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Viển |