vanban.org

Bản án 61/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 13/04/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/12/2020. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/12/2020. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TIÊN DU
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2021/HS-ST
Ngày 13-4-2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU, TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Vân Hải

Bà Đào Thị Thu

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Cương- Thư ký TAND huyệ n Tiên Du

- Đ diện Viện kiểm sát nhân dân huyệ n Tiên Du , tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Anh – Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 4 năm 2021 tại Nhà văn hóa thôn Đ Thượng, xã Đ Đồng, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, Tòa án nhân dân huyện Tiên Du xét xử sơ thẩm lưu động công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 58/2021/TLST-HS ngày 12/3/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2021/QĐXXST-HS ngày 30/3/2021 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1993; HKTT: Khu T, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; Chỗ ở hiện nay: Khu Q, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giớ i tí nh: Nam; Tôn giá o: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Tiến H, sinh năm 1971 và con bà Đặng Thị T, sinh năm 1971; Có vợ Nguyễn Thị D, sinh năm 1993 (Đã ly hôn) và có 01 con, sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Chưa có;

Bị cáo bị bắt quả tang tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/12/2020 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh – Có mặt

2. Nguyễn Văn V, sinh năm 1994; HKTT: Khu T, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giớ i tí nh: Nam; Tôn giá o: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1972 và con bà Nguyễn Thị Lập, sinh năm 1972; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Chưa có;

Bị cáo bị bắt quả tang tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/12/2020 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Tiên Du – Có mặt

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1968 (vắng mặt)

Địa chỉ: Khu Q, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh

NỘ I DUNG VỤ Á N:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 40 phút, ngày 14/12/2020, tại cửa phòng hát số 2, tầng 2 quán karaoke H thuộc địa phận thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Bắc Ninh của anh Nguyễn Hữu S, Công an huyện Tiên Du phối hợp Công an xã T bắt quả tang đối tượng Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn V đang có hành vi bán trái phép chất ma túy cho đối tượng tự khai là Lê Văn H1, sinh năm 1998, HKTT: Thôn N, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Cơ quan Công an thu giữ: Tại túi quần phía trước bên trái của Hùng đang mặc có 01 túi nylon màu trắng bên trong chứa 02 viên nén hình tròn màu hồng và chất tinh thể màu trắng, 700.000 đồng, 01 điện thoại Nokia màu đen; Thu của V 01 điện thoại Iphone 6, màu trắng bạc; Thu của Đ 01 điện thoại Mastel màu đen; Thu giữ 01 xe ô tô tải màu xanh, BKS 99C - 046.60.

Ngày 15/12/2020, Cơ quan CSĐT Công an huyện Tiên Du đã ra Quyết định trưng cầu giám định đối với số ma túy thu giữ được trên người của Hùng. Tại Bản Kết luận giám định số: 03/KLGĐMT-PC09 ngày 17/12/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận:

- Chất tinh thể màu trắng trong 01 túi nylon màu trắng có khối lượng 0,0066 gam, là ma túy, loại ma túy: Methamphetamine;

- 02 viên nén hình tròn màu hồng bên trong 01 túi nylon màu trắng có khối lượng 0,0868 gam, là ma túy, loại ma túy: Methamphetamine.

Ngày 15/12/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tiên Du đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đ và V, tuy nhiên không thu giữ đồ vật, tài liệu liên quan đến vụ án.

Với nội dung trên, Cáo trạng số 20/CT - VKS ngày 10/3/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyệ n Tiên Du đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn V, Nguyễn Văn Đ về tội“Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điề u 251 Bộ luậ t hì nh sự .

Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo lần lượt khai nhận nội dung Cáo trạng truy tố là đúng. Tối ngày 14/12/2020, các bị cáo đang ở nhà ông H có người bạn mới quen tên H1 gọi điện thoại cho bị cáo Đ hỏi mua 500.000 đồng ma túy đá, ngựa. Bị cáo Đ sau đó đã rủ bị cáo V đi mua ma túy bán cho H1. Do muốn kiếm lời để cùng nhau ăn tiêu, các bị cáo thống nhất đi mua 500.000 đồng ma túy đá, ngựa về bán lại cho H1 với giá 700.000 đồng. Sau đó, bị cáo Đ mượn xe ô tô tải màu xanh của ông H và chở bị cáo V đến khu vực bến xe thành phố Bắc Ninh để tìm mua ma túy. Tại đây, bị cáo V hỏi mua ma túy 02 viên nén màu hồng và chất tinh thể màu trắng với giá 500.000 đồng của người đàn ông không quen biết. Cả hai sau đó đi xe về quán Karaoke H để bán ma túy cho H1. Khi bị cáo Đ đưa ma túy cho H1 và cả hai lên phòng hát quán karaoke để H1 lấy 700.000 đồng trả thì bị Công an bắt quả tang.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, lời khai tại cơ quan điều tra thể hiện: Khi cho các bị cáo mượn xe ô tô tải màu xanh, BKS 99C- 046.60 ông H không biết Đ, V sử dụng làm phương tiện đi mua bán ma túy. Ngày 31/12/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tiên Du đã trả lại ông H chiếc xe trên nên ông không có ý kiến gì.

Đ diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo Cáo trạng số 20/CT- VKS ngày 10/3/2021. Trong phần luận tội đã phân tích nguyên nhân, tính chất, mức độ nguy hiểm cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai trò của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

1/ Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

2/ Hình phạt và điều luật áp dụng: Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Đ từ 30 tháng đến 36 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/12/2020.

Xử phạt bị cáo V từ 30 tháng đến 36 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/12/2020.

Phạt bổ sung mỗi bị cáo từ 5 triệu đồng đến 10 triệu đồng thu nộp ngân sách nhà nước.

3/ Về xử lý vật chứng áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư chứa mẫu vật sau giám định;

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 700.000 đồng; 01 điện thoại Nokia 1133 màu đen; 01 điện thoại Mastel màu đen kèm theo simcard;

- Trả bị cáo V 01 điện thoại Iphone 6, màu trắng bạc nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án;

Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo sau khi nghe luận tội của đạ i diệ n Việ n

kiể m sá t nhân dân huyện Tiên Du, thừa nhận có tội, không tranh luận.

NHẬ N ĐỊ NH CỦ A TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ được và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Từ đó có đủ cơ sở kết luận: Hồi 21 giờ 40 phút ngày 14/12/2020, tại cửa phòng hát số 2, tầng 2 quán karaoke H thuộc địa phận thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Bắc Ninh, các bị cáo Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn V có hành vi bán trái phép 0,0934 gam ma túy Methamphetamine cho đối tượng tên Lê Văn H1 thu về số tiền 700.000 đồng. Như vậy hành vi các bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Cáo trạng truy tố là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Trong vụ án này các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công cụ thể nên thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Bị cáo Đ có vai trò lớn nhất, là người liên lạc với đối tượng H1 để bán ma túy và mượn phương tiện để đi mua ma túy. Bị cáo V tham gia rất tích cực, là người trực tiếp bỏ tiền ra để mua ma túy bán cho đối tượng H1.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Ngoài ra hành vi của bị cáo gây khó khăn trong công tác phòng chống tệ nạn xã hội, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe cộng đồng và là nguyên nhân phát sinh nhiều tội phạm khác.... Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo riêng và phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy: Các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nhưng là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy. Trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo phạm tội với mục đích thu lời bất chính nên Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền là có căn cứ.

Về xử lý vật chứng: Mẫu vật ma túy còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy. Đối với số tiền 700.000 đồng đối tượng Hùng trả các bị cáo khi mua ma túy và 01 điện thoại Nokia 1133 màu đen, 01 điện thoại Mastel bị cáo Đ và đối tượng H1 sử dụng liên lạc trong quá trình giao dịch mua bán ma túy cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước. Bị cáo V bị thu giữ 01 điện thoại Iphone 6, Hội đồng xét xử nhận thấy không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại bị cáo V nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án. Đối với 01 xe ô tô tải màu xanh, BKS 99C- 046.60 là ô tô của ông H không biết việc các bị cáo mượn xe đi mua bán ma túy. Vì vậy, ngày 31/12/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tiên Du đã trả lại ông H chiếc xe trên.

Đối với đối tượng tự khai là Lê Văn H1, sinh năm 1998, HKTT: Thôn N, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh đã có hành vi mua ma túy của các bị cáo ngày 14/12/2020. Trong quá trình làm việc tại Cơ quan Công an, H1 đã lợi dụng sơ hở bỏ trốn. Các bị cáo mới quen H1, không biết rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người này. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tiên Du đã xác minh tại xã H nhưng không có người nào có tên tuổi, địa chỉ như trên đồng thời cũng xác minh chủ thuê bao nhưng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tiên Du vẫn chưa làm rõ đối tượng Lê Văn H1, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho các bị cáo ở khu vực gần bến xe thành phố Bắc Ninh, các bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ của người đàn ông này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tiên Du chưa làm rõ, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Đối với ông H đã cho Đ và V mượn xe ô tô nhưng ông H không biết các bị cáo sử dụng để đi mua bán ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tiên Du không xử lý đối với ông H là phù hợp.

Đối với anh S là chủ quán Karaoke Hoàng Long, anh Sỹ không biết việc các bị cáo và đối tượng H1 mua bán ma túy tại quán Karaoke của anh nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tiên Du không xử lý đối với anh Sỹ là phù hợp.

Sau khi bị bắt giữ, qua kiểm tra, các bị cáo dương tính với ma túy. Các bị cáo khai nhận trước đó đã sử dụng ma túy tuy nhiên không nhớ mua ma túy của ai và sử dụng ở đâu nên chưa có căn cứ để xử lý các bị cáo về hành vi này, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

2. Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 329, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/12/2020.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/12/2020.

Phạt bổ sung mỗi bị cáo 7.000.000 đồng thu nộp ngân sách nhà nước.

Tạm giam bị cáo 45 ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

3. Xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư chứa mẫu vật sau giám định;

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 700.000 đồng; 01 điện thoại Nokia 1133 màu đen; 01 điện thoại Mastel màu đen kèm theo simcard;

- Trả bị cáo V 01 điện thoại Iphone 6, màu trắng bạc nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án;

(theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/3/2021 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tiên Du)

4. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt án.

Cỡ chữ