- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Lê Văn K - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn K phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM YÊN TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 61/2021/HS-ST Ngày: 14 - 9 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM YÊN, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ma Thị Tuyết Mai.
Các hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Vân Anh
2. Ông Nguyễn Duy Sự
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Thu Hương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hàm Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Yên tham gia phiên toà: Ông Trần Trọng An - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 9 năm 2021, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 53/2021/TLST-HS, ngày 23 tháng 8 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2021/QĐXXST-HS, ngày 30 tháng 8 năm 2021 đối với bị cáo:
Lê Văn K, sinh ngày 09/7/1993 tại huyện H, tỉnh T.
Nơi cư trú: Tổ dân phố Y, thị trấn T, huyện H, tỉnh T, nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; bố đẻ: Lê Văn A, sinh năm 1970; mẹ đẻ: Trần Thị H, sinh năm 1972; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 26/02/2021, bị UBND thị trấn Tân Yên, huyện Hàm Yên áp dụng biện pháp xử lý hành chính Giáo dục tại thị trấn (chưa chấp hành xong); nhân thân: Ngày 30/12/2014, bị Công an huyện Hàm Yên, xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội (phạt tiền 600.000 đồng, chưa chấp hành xong).
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/6/2021 đến nay (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 30/6/2021, Lê Văn K đón xe khách đến khu vực Dốc Đèn thuộc tổ dân phố Bắc Mục, thị trấn Tân Yên, huyện Hàm Yên để tìm mua ma túy đá về sử dụng cho bản thân, khi đến nơi K xuống xe và gặp một người đàn ông không quen biết khoảng 35 tuổi, K đến gần và hỏi "Anh có đá không, để em con hai", ý K là hỏi mua 200.000 đồng ma túy đá, người đàn ông hiểu ý và gật đầu bảo “Có”, K đưa cho người đàn ông đó 200.000đ, người này cầm tiền và đưa cho K 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa tinh thể màu trắng, K cầm gói ma túy vừa mua được tìm nơi vắng người và lấy một ít ra sử dụng bằng hình thức hút trực tiếp vào cơ thể, số còn lại K cất vào túi quần bên phải đang mặc trên người rồi đón xe khách đến Km 39 Quốc lộ 2, thuộc tổ dân phố Tân Quang, thị trấn Tân Yên, huyện Hàm Yên. Khoảng 12 giờ 30 phút, K xuống xe đi bộ thì bị tổ công tác Công an huyện Hàm Yên phát hiện bắt quả tang, thu giữ trong túi quần bên phải của K 01 túi nilon màu trắng, bên trong chứa tinh thể màu trắng (K khai nhận là ma túy đá, mua về để sử dụng).
Tiến hành xét nghiệm tìm chất ma túy trong cơ thể Lê Văn K, kết quả dương tính (có chất ma tuý trong cơ thể).
Tại Kết luận giám định số 629/GĐKTHS, ngày 03/7/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang kết luận: Mẫu vật gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine; khối lượng 0,168 gam (không phẩy một sáu tám gam).
Tại Cáo trạng số 55/CT-VKSHY, 19/8/2021 Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang đã truy tố Lê Văn K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo theo tội danh, điều luật và đề nghị:
- Tuyên bố bị cáo Lê Văn K phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Văn K từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 08 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị HĐXX xem xét, giải quyết việc xử lý vật chứng (tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong có chứa ma túy loại Methamphetamine), khoản tiền án phí và tuyên quyền kháng cáo của bị cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về việc xem xét hành vi của Lê Văn K
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn K đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo khai nhận vì là đối tượng nghiện ma túy nên ngày 30/6/2021 bị cáo đã mua 01 gói ma túy, loại Methamphetamine của một người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ với giá 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) mục đích để sử dụng. Bị cáo đã sử dụng một phần, phần còn lại bị cáo cất giữ trên người thì bị phát hiện, lập biên bản và thu giữ toàn bộ tang vật.
Ngoài lời khai nhận của bị cáo, hành vi phạm tội của Lê Văn K còn được chứng minh bằng toàn bộ những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Mẫu vật gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine; khối lượng 0,168 gam (không phẩy một sáu tám gam).
Như vậy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, trực tiếp xâm phạm vào chính sách độc quyền quản lý về chất ma túy của nhà nước. Vì vậy, cần phải có mức án tương xứng với hành vi, mức độ phạm tội của bị cáo để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.
Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lê Văn K đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, khi quyết định hình phạt cần áp dụng cho bị cáo.
Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, không có tài sản gì có giá trị, hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của bị cáo nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, không có mục đích vụ lợi. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
Về việc xem xét tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử.
Quá trình điều tra, truy tố các Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm do Luật định. Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, giải quyết vụ án đúng theo trình tự, thủ tục được thể hiện thông qua việc ghi chép, lập biên bản các hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, thực hiện việc xét hỏi, tranh tụng đúng quy định tại các Điều 289, 306, 315, 320, 321, 322 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Về vật chứng, án phí, quyền kháng cáo và các vấn đề khác.
Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo Lê Văn K 01 gói nhỏ bên trong có chứa 0,168 gam (không phẩy một sáu tám gam), loại Methamphetamine, sau khi đã lấy đi giám định số còn lại được niêm phong trong phong bì là vật chứng của vụ án thuộc loại nhà nước cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Về các vấn đề khác: Đối với người đàn ông đã bán trái phép chất ma túy cho Lê Văn K (tại khu vực Dốc Đèn, thuộc tổ dân phố Bắc Mục, thị trấn Tân Yên, huyện Hàm Yên), Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hàm Yên không có căn cứ để xử lý nên HĐXX không xem xét; đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lê Văn K vào ngày 30/6/2021, Công an huyện Hàm Yên đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính nên HĐXX cũng không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 106, 136, 331 và 333 Bộ Luật tố tụng hình sự; điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Quốc hội.
- Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn K phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
1. Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Lê Văn K 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (30/6/2021).
2. Về vật chứng:
Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong bên trong có chứa ma túy, loại Methamphetamine (tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 01/9/2021 giữa Công an huyện Hàm Yên và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Yên).
3. Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND tỉnh Tuyên Quang; - Trại tạm giam Công an tỉnh TQ; - VKSND huyện Hàm Yên; - Công an huyện Hàm Yên; - Chi cục T.H.A dân sự huyện Hàm Yên; - Bị cáo; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ma Thị Tuyết Mai |