vanban.org

Bản án 61/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 30/06/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Hoàn K phạm tội “Vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Phạm Văn Hoàn K 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 (Ba) năm, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Phạm Văn Hoàn K cho Ủy ban nhân dân xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn Hoàn K phạm tội “Vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ”. - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (đi…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Hoàn K phạm tội “Vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH XUYÊN
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2021/HS - ST
Ngày 30 - 6 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN, TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Phan Thị Thanh Mai

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lê Thị Bích Thuần

Ông Nguyễn Quang Thái

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Nhật Mai - Thư ký Toà án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Bà Vũ Lan Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 41/2021/TLST - HS ngày 09 tháng 4 năm 2021. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2021/QĐXXST - HS ngày 27 tháng 4 năm 2021, đối với bị cáo:

Phạm Văn Hoàn K, sinh ngày 12 tháng 12 năm 1990 tại xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: Đội 02, thôn L, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 09/12; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; bố đẻ: Không; mẹ đẻ: Phạm Thị T; vợ: Cao Thị Mỹ T và có 01 con, sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại “có mặt”.

- Bị hại: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1945 (đã chết);

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1965 (con bà T); Địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc.

Người đại diện theo ủy quyền của bà L: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1960; Địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc (theo văn bản ngày 26/11/2020), “có mặt”.

- Bị đơn dân sự: Công ty Cổ phần Đ; Địa chỉ: Số 23, đường A1 P 6, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Vũ H, chức vụ: Giám đốc.

Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Phạm Huy T, sinh năm 1971; Địa chỉ: Số 218, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng (theo văn bản ngày 20/11/2020), “vắng mặt”.

- Người làm chứng:

+ Anh Phạm Văn T, sinh năm 1983 “có mặt”;

+ Bà Lê Thị T, sinh năm 1968 “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Văn Hoàn K có giấy phép lái xe ô tô hạng FC do Sở giao thông vận tải thành phố Hải Phòng cấp ngày 08/01/2020 có giá trị đến ngày 08/01/2025. Từ tháng 03/2018, K là lái xe thuê của Công ty cổ phần Đ có địa chỉ ở số 23 đường A1 P 6, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng do ông Vũ H làm giám đốc. Ngày 20/11/2020, Công ty cổ phần Đ điều động K điều khiển xe ô tô đầu kéo BKS: 15C - 285.69, kéo theo rơ mooc BKS: 15R - 132.02, chở 31.437kg thép từ thị trấn P, huyện K, Hải Dương, đi lên Công ty C tại khu Công nghiệp B 1, Bình Xuyên, Vĩnh Phúc để giao hàng, đi cùng có anh Phạm Văn T, sinh năm 1983, ở phường Tân Bình, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương ngồi trên ca bin. Khoảng 06 giờ 40 phút cùng ngày, K điều khiển xe ôtô đầu kéo, BKS: 15C - 285.69, kéo theo rơ mooc BKS: 15R - 132.02, chở 31,437kg thép trên đường tỉnh lộ 310B hướng thị trấn Bá Hiến, huyện Bình Xuyên đi khu công nghiệp B, khi đi đến ngã 3 giao nhau giữa đường tỉnh lộ 310B với đường đi vào khu công nghiệp B 1 thuộc tổ dân phố T, thị trấn B, huyện B thì K bật đèn tín hiệu chuyển hướng rẽ phải và quan sát qua gương chiếu hậu bên phải thấy có bà Trần Thị T, sinh năm 1945 ở tổ dân phố T, thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc đang điều khiển xe đạp điện đi bên phải xe của K và đi cùng chiều với xe của K, lúc này K điều khiển xe ô tô rẽ phải vào đường khu Công nghiệp B 1 thì bà T cũng đi đến ngã 3 giao nhau giữa đường 310B với đường vào khu Công nghiệp B 1 nên khi phần đầu kéo xe ô tô BKS: 15C - 285.69 đã đi vào đường khu Công nghiệp B 1, còn phần rơ mooc BKS: 15R - 132.02 đang rẽ đi vào đường khu công nghiệp, thì bà T không kịp dừng lại nên phần thanh sắt chắn lốp dự phòng ở bên dưới thành bên phải của rơ mooc (giữa rơ mooc) va chạm với xe đạp điện của bà T điều khiển, làm xe đạp điện cùng bà T ngã văng xuống đường bị hàng lốp thứ 4, 5, 6 bánh sau bên phải của rơ mooc nghiến qua xe đạp điện, phần ngực và đầu của bà T. Hậu quả bà T tử vong tại chỗ, xe đạp điện bị hư hỏng.

Sau khi tai nạn xảy ra, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Bình Xuyên đã tiến hành vẽ sơ đồ vụ tai nạn, chụp ảnh hiện trường và phương tiện, khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông và đã tạm giữ: 01 xe ô tô đầu kéo BKS: 15C - 285.69, kéo theo rơ mooc BKS: 15R - 132.02; 4.550 cây thép có tổng trọng lượng 31.437kg trên xe rơ mooc cùng giấy chứng nhận đăng ký xe và giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô đầu kéo BKS: 15C - 285.69, giấy chứng nhận kiểm định rơ moóc, 01 giấy phép lái xe ô tô hạng FC mang tên Phạm Văn Hoàn K và 01 xe đạp điện nhãn hiệu SUFACO RPOR ATION để phục vụ điều tra.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 147/KLGĐ ngày 25/11/2020 của Trung T pháp y tỉnh Vĩnh Phúc đối với bà Trần Thị T kết luận: Ít vết thương rách da cơ. Chấn thương sọ não nặng, chấn thương hàm mặt nặng, chấn thương cổ nặng, dập vỡ hoàn toàn khối xương hộp sọ, khối xương hàm mặt. Dập gãy hoàn toàn đốt sống cổ. Chấn thương ngực bụng nặng: Dập vỡ toàn bộ xương sườn, dập vỡ hoàn toàn các phủ tạng trong lồng ngực và ổ bụng. Dập gãy hoàn toàn xương tứ chi. Nguyên nhân tử vong: Sốc đa chấn thương không hồi phục.

Ngày 20/11/2020 tại Cơ quan điều tra, Công an huyện Bình Xuyên đã kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở của Phạm Văn Hoàn K, kết quả: Trong hơi thở của K không có nồng độ cồn.

Ngày 26/11/2020, Phạm Văn Hoàn K và đại diện theo ủy quyền của Công ty cổ phần Đ là ông Phạm Huy T cùng đại diện gia đình bị hại đã thỏa thuận và thống nhất bồi thường các khoản chi phí tiền mai táng phí, bù đắp tổn thất tinh thần và bồi thường hư hỏng xe đạp điện cho gia đình bị hại với tổng số tiền là 100.000.000 đồng. Phạm Văn Hoàn K và ông Phạm Huy T đã bồi thường đủ 100.000.000 đồng cho gia đình bị hại. Toàn bộ số tiền này Công ty cổ phần Đ bỏ ra bồi thường và yêu cầu K phải trả lại 70.000.000 đồng cho Công ty, nhưng Công ty không đề nghị giải quyết trong vụ án này, đại diện gia đình bị hại nhận đủ tiền, không có yêu cầu gì thêm đồng thời có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho K.

Tại Cáo trạng số 45/CT - VKSBX ngày 05 tháng 4 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên truy tố Phạm Văn Hoàn K về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích đánh giá chứng cứ, tính chất nghiêm trọng của vụ án, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1, khoản 5 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự. Xử phạt Phạm Văn Hoàn K từ 15 đến 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng.

Cấm bị cáo Phạm Văn Hoàn K hành nghề lái xe từ 01 năm đến 02 năm.

Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586, 591 của Bộ luật Dân sự. Ghi nhận sự tự thỏa thuận về việc bồi thường thiệt hại dân sự giữa bị cáo K và đại diện ủy quyền của Công ty cổ phần Đ là ông Phạm Huy T với đại diện gia đình bị hại (bà T), số tiền là 100.000.000 đồng. Xác nhận bị cáo K và Công ty cổ phần Đ đã bồi thường xong.

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe hạng FC số/No: 310117003765 do Sở Giao thông vận tải thành phố Hải Phòng cấp ngày 08/01/2020 mang tên Phạm Văn Hoàn K nhưng cần tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.

Ý kiến của những người tham gia tố tụng:

Người đại diện theo ủy quyền của gia đình bị hại là ông Nguyễn Văn T trình bày và xác nhận: Sau khi tai nạn xảy ra Phạm Văn Hoàn K và đại diện theo ủy quyền của Công ty cổ phần Đ là ông Phạm Huy T đã đến thăm hỏi, xin lỗi gia đình ông. Bị cáo K và Công ty cổ phần Đ đã tự nguyện bồi thường cho gia đình ông số tiền 100.000.000 đồng bao gồm tiền chi phí mai táng phí, bù đắp tổn thất tinh thần và bồi thường hư hỏng xe đạp điện. Gia đình ông đã nhận đủ số tiền này và không yêu cầu bị cáo và Công ty cổ phần Đ phải bồi thường gì thêm về phần dân sự; về hình phạt: Quá trình điều tra đại diện gia đình bị hại đã có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Tại phiên tòa, đại diện gia đình bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo.

Người đại diện theo ủy quyền của Công ty cổ phần Đ là ông Phạm Huy T vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra đã trình bày và xác nhận: Ngày 26/11/2020, Phạm Văn Hoàn K và Công ty cổ phần Đ do ông làm đại diện theo ủy quyền của Công ty đã cùng đại diện gia đình bị hại thỏa thuận và thống nhất bồi thường các khoản chi phí tiền mai táng phí, bù đắp tổn thất tinh thần và bồi thường hư hỏng xe đạp điện cho gia đình bị hại với tổng số tiền là 100.000.000 đồng. Phạm Văn Hoàn K và Công ty đã bồi thường đủ 100.000.000 đồng cho gia đình bị hại. Toàn bộ số tiền này Công ty cổ phần Đ bỏ ra bồi thường và yêu cầu K phải trả lại 70.000.000 đồng cho Công ty, nhưng Công ty không đề nghị giải quyết trong vụ án này.

Tại phiên tòa người làm chứng là anh Phạm Văn T trình bày và xác nhận lời khai của bị cáo là đúng; Người làm chứng bà Lê Thị T tuy vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra cũng đã trình bày và xác nhận lời khai của bị cáo là đúng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra, Kiểm sát viên và Viện kiểm sát trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đầy đủ, đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi của người tiến hành tố tụng và Cơ quan tiến hành tố tụng trong vụ án là hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên. Bị cáo khai nhận: Khoảng 06 giờ 40 phút ngày 20/11/2020, tại ngã ba giao cắt giữa đường tỉnh lộ 310B với đường vào khu Công nghiệp B 1 thuộc địa phận tổ dân phố T, thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc. Phạm Văn Hoàn K có giấy phép lái xe ô tô theo quy định (hạng FC), điều khiển xe ô tô đầu kéo BKS: 15C - 285.69, kéo theo rơ mooc BKS: 15R - 132.02 chuyển hướng rẽ phải từ đường 310B đi vào đường khu Công nghiệp B 1 không đảm bảo an toàn nên phần thanh sắt chắn ngang bên phải của rơ mooc đã va chạm với xe đạp điện của bà T đang đi ở ngã 3 giao nhau, làm xe đạp điện và bà T ngã văng xuống đường và bị hàng lốp bánh sau bên phải của rơ mooc nghiến qua phần ngực và đầu của bà T. Hậu quả bà T tử vong tại chỗ, xe đạp điện bị hư hỏng.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng và những người tham gia tố tụng khác. Phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra. Phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như biên bản khám nghiệm hiện trường, bản ảnh chụp tại hiện trường, sơ đồ vụ tai nạn, biên bản khám nghiệm phương tiện giao thông có liên quan đến vụ tai nạn, kết luận giám định nguyên nhân tử vong của bị hại cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có đủ cơ sở để kết luận Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên đã truy tố bị cáo Phạm Văn Hoàn K về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội, không oan sai.

Nội dung điều luật quy định: “1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người;”….

Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo điều khiển xe ô tô tham gia giao thông đường bộ vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ (chuyển hướng xe không đảm bảo an toàn), gây tai nạn giao thông, hậu quả làm một người chết. Hành vi điều khiển phương tiện tham gia giao thông của bị cáo đã vi phạm khoản 2 Điều 15 Luật Giao thông đường bộ về chuyển hướng xe. Khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ quy định: "Điều 15.Chuyển hướng xe…

…2. Trong khi chuyển hướng, người lái xe phải nhường quyền đi trước cho người đi bộ, người đi xe đạp đang đi trên phần đường dành riêng cho họ, … chỉ cho xe chuyển hướng khi quan sát thấy không gây trở ngại hoặc nguy hiểm cho người và phương tiện khác. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, sự hoạt động bình thường của các phương tiện giao thông đường bộ và gây thiệt hại nghiêm trọng về tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ. Làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn huyện. Do đó, hành vi của bị cáo cần xử phạt nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.

. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cũng cần xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Xét thấy: Bị cáo K là người có nhân thân tốt, bản thân chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội với lỗi vô ý. Sau khi tai nạn xảy ra bị cáo cùng với bị đơn dân sự là Công ty cổ phần Đ đã tích cực thăm hỏi, động viên đồng thời tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại, đại diện gia đình bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, tại phiên tòa đại diện gia đình bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Do bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ và có nơi cư trú ổn định rõ ràng, nên có đủ điều kiện để áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự. Vì vậy, không cần thiết bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại Trại giam mà cho bị cáo hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách và giao cho chính quyền địa phương nơi bị cáo thường trú giám sát, giáo dục với mức án như đề nghị của Viện kiểm sát cũng đủ để răn đe, phòng ngừa chung cũng như tạo điều kiện giúp bị cáo có cơ hội tự cải tạo, sửa chữa sai lầm để trở thành công dân có ích cho xã hội.

. Về hình phạt bổ sung: Nghề nghiệp chính của bị cáo là lái xe nên phải cấm bị cáo hành nghề lái xe ôtô theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự với thời gian như đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bị cáo K và Công ty cổ phần Đ đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 100.000.000 đồng bao gồm tiền chi phí mai táng phí, bù đắp tổn thất tinh thần và bồi thường hư hỏng xe đạp điện. Gia đình bị hại đã nhận đủ số tiền trên và không yêu cầu bị cáo và Công ty cổ phần Đ phải bồi thường gì thêm về dân sự nên cần xác nhận.

. Vật chứng vụ án:

- Đối với xe ô tô đầu kéo BKS: 15C - 285.69 kéo theo rơ moóc BKS: 15R - 132.02 cùng 31.437kg sắt trên xe rơ mooc. Quá trình điều tra xác định xe ô tô và thép là của Công ty cổ phần Đ do ông Vũ H làm giám đốc. Ngày 21/11/2020 và 05/12/2020 Cơ quan điều tra đã trả xe, sắt cùng toàn bộ giấy tờ xe cho ông Huấn, sau khi nhận lại tài sản, ông Huấn không có yêu cầu đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

- Đối với 01 xe đạp điện nhãn hiệu SUFAT CORPORATION. Quá trình điều tra xác định xe là của bà Nguyễn Thị T. Ngày 05/12/2020, Cơ quan điều tra đã trả cho đại diện gia đình bị hại là ông Nguyễn Văn T, sau khi nhận lại tài sản, ông T không yêu cầu đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

- Đối với 01 giấy phép lái xe hạng FC số/No: 310117003765 do Sở Giao thông vận tải thành phố Hải Phòng cấp ngày 08/01/2020 mang tên Phạm Văn Hoàn K chuyển theo hồ sơ vụ án, xét thấy cần trả lại cho bị cáo là phù hợp, nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

. Ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên tại phiên tòa về tội danh cũng như mức hình phạt là phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Hoàn K phạm tội “Vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ”.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Phạm Văn Hoàn K 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 (Ba) năm, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Phạm Văn Hoàn K cho Ủy ban nhân dân xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo.

Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự, cấm bị cáo Phạm Văn Hoàn K hành nghề lái xe ôtô trong thời hạn 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586, 591 của Bộ luật Dân sự. Ghi nhận sự tự thỏa thuận về việc bồi thường thiệt hại dân sự giữa bị cáo Phạm Văn Hoàn K và Công ty cổ phần Đ với đại diện gia đình bị hại (bà T) số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng). Xác nhận bị cáo K và Công ty cổ phần Đ đã bồi thường xong cho gia đình bà T.

Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Trả lại cho Phạm Văn Hoàn K 01 giấy phép lái xe mô tô hạng FC số/No: 310117003765 do Sở Giao thông vận tải thành phố Hải Phòng cấp ngày 08/01/2020 mang tên Phạm Văn Hoàn K nhưng tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án.

Về án phí: Buộc bị cáo Phạm Văn Hoàn K phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn dân sự vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày Bản án được niêm yết.

Cỡ chữ