- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa anh Nguyễn Thanh H và chị Phan Thị L"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 61/2021/HNGĐ-ST Ngày: 23-6-2021 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Lan
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Chung và ông Phạm Công Gia.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Lại Thị Hiền – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 6 năm 2021, tại Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 172/2021/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2021, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2021, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Thanh H, sinh năm 1990
HKTT: số 3058/11, tổ A, ấp PT, xã Phú Trung, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Chị Phan Thị L, sinh năm 1987
HKTT:số 3058/11, tổ A, ấp PT, xã Phú Trung, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
Chỗ ở hiện nay: ấp B, xã PL, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
(Anh H, chị L có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 04/5/2021 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Nguyễn Thanh H trình bày:
- Về hôn nhân: Anh và chị Phan Thị L hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phú Trung, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai và được cấp giấy chứng nhận kết hôn theo luật định vào ngày 07-7-2015, số:41, quyển số 01/2015. Hai người chung sống hạnh phúc đến tháng 2/2019 thì phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hòa hợp nên thường xuyên cãi nhau, sau đó chị L đã dắt con bỏ về nhà cha mẹ ruột sinh sống. Anh H đã nhiều lần khuyên chị L về sống chung nhưng chị không đồng ý. Từ đó cho đến nay hai người không còn chung sống với nhau cho đến nay. Nhận thấy tình cảm không còn nên anh H yêu cầu được ly hôn với chị Phan Thị L.
- Về nuôi con chung: có 02 con chung tên Nguyễn Thanh H1, sinh ngày 30/01/2016 và Nguyễn Thanh T, sinh ngày 14/4/2017. Anh H yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Thanh T và đồng ý giao con chung Nguyễn Thanh H1 cho chị L nuôi dưỡng và không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản ghi lời khai ngày 03/6/2021 và nội dung đơn đề nghị giải quyết xét xử vắng mặt của bị đơn chị Phan Thị L trình bày: Chị thống nhất như lời trình bày của anh H về quan hệ hôn nhân. Tuy nhiên theo chị mâu thuẫn vợ chồng xảy ra là do chị mâu thuẫn với gia đình bên chồng, cha mẹ chồng thường xuyên la mắng chị bằng những lời nói khó nghe, anh H thì cũng đe dọa đòi đánh nên chị bỏ về nhà cha mẹ ruột tại ấp Phương Mai, xã Phú Lâm, huyện Tân Phú sinh sống. Từ đó hai người không còn chung sống với nhau. Nay anh H xin ly hôn thì chị đồng ý ly hôn với anh H nhưng do chị theo đạo thiên chúa nên không đồng ý ký vào các biên bản. Chị Hằng làm đơn đề nghị giải quyết xét xử vắng mặt đề ngày 03/6/2021.
Về con chung: có 02 con chung tên Nguyễn Thanh H1, sinh ngày 30/01/2016 và Nguyễn Thanh T, sinh ngày 14/4/2017. Khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi dưỡng con chung Nguyễn Thanh H1 và đồng ý giao con chung Nguyễn Thanh T cho anh H được nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Phát biểu của Kiểm sát viên:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và đương sự đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Nguyên đơn và bị đơn đều có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định của pháp luật.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Tòa án chấp nhận đơn khởi kiện của anh H. Về hôn nhân: Anh H được ly hôn với chị Phan Thị L. Đề nghị giao con chung Nguyễn Thanh H1, sinh ngày 30/01/2016 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng và giao Nguyễn Thanh T, sinh ngày 14/4/2017 cho anh H được nuôi dưỡng. Tạm thời chị L, anh H không phải cấp dưỡng nuôi con các bên đương sự không yêu cầu. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự khai không có nên không xem xét. Về án phí: Nguyên đơn phải nộp 300.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa.
Về áp dụng pháp luật tố tụng:
- Bị đơn chị Phan Thị L có nơi cư trú tại ấp Phú Thắng, xã Phú Trung, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Anh H khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con. Vì vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án được xác định là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; anh là người khởi kiện nên xác định tư cách đương sự anh là nguyên đơn, chị L là bị đơn được quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Ngày 04/6/2021 Tòa án lập biên bản không tiến hành hòa giải được do bị đơn vắng mặt, bị đơn đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hay trở ngại khách quan nên Tòa án căn cứ vào Điều 207; khoản 2 Điều 208; khoản 3 Điều 210 Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, đồng thời Tòa án thông báo kết quả phiên họp cho đương sự vắng mặt biết.
- Anh H và chị L có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành thủ tục xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.
Về áp dụng pháp luật nội dung:
- Về hôn nhân: Hôn nhân giữa anh H và chị L được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Phú Trung và được cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật, vào sổ cấp giấy số 41, quyển số:01/2015, ngày 07/7/2015. Như vậy, hôn nhân của anh chị là hợp pháp.
Cuộc sống chung hạnh phúc đến tháng 02/2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hòa hợp nên thường xuyên cãi nhau, đồng thời mối quan hệ giữa chị L với gia đình bên chồng cũng không được hòa thuận. Từ tháng 02/2019 chị L và anh H không còn chung sống với nhau cho đến nay. Các bên đương sự đều có thái độ bỏ mặc, không có thiện chí hàn gắn đoàn tụ gia đình. Kết quả xác minh, thu thập chứng cứ về tình trạng hôn nhân tại địa phương ngày 03/6/2021 cũng phù hợp với lời khai chị L. Như vậy anh chị đã không thực hiện quyền nghĩa vụ chung của vợ chồng tại Điều của 19 Luật Hôn nhân và gia đình có quy định“Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình…có nghĩa vụ sống chung với nhau”.
Vì lẽ đó, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định: Mâu thuẫn vợ chồng giữa anh H và chị L đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh, cho anh H được ly hôn với chị L, quy định tại Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình; phù hợp với đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát.
Về nuôi con chung: Căn cứ vào các chứng cứ trong hồ sơ thể hiện anh H làm nghề tài xế lái xe, chị L làm nghề thu mua ve chai nên mức thu nhập trung bình từ 10.000.000đ/tháng nên có đủ điều kiện nuôi con. Để ổn định cuộc sống, sinh hoạt và học tập cho các con chung từ thời gian 2019 cho đến nay, đồng thời sự thỏa thuận của các bên đương sự cũng phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử tiếp tục giao con chung Nguyễn Thanh H1, sinh ngày 30/01/2016 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng và giao con chung Nguyễn Thanh T, sinh ngày 14/4/2017 cho anh H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Do các đương sự không yêu cầu cấp dưỡng nên tạm thời miễn cho các bên đương sự nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Căn cứ Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và Gia đình. Anh H, chị L có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung anh H, chị L có quyền xin thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.
Về tài sản chung và nợ chung: Anh H, chị L trình bày không có, không yêu giải quyết nên Tòa án không xem xét.
Về án phí: Anh H phải nộp số tiền 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.
Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 235; Điều 238 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Điều 19, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về yêu cầu khởi kiện: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Thanh H.
- Về hôn nhân: Anh Nguyễn Thanh H được ly hôn với chị Phan Thị L.
- Về con chung:Giao con chung Nguyễn Thanh H1, sinh ngày 30/01/2016 cho chị Phan Thị L trực tiếp nuôi dưỡng và giao con chung Nguyễn Thanh T, sinh ngày 14/4/2017 cho anh Nguyễn Thanh H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; tạm thời miễn cho anh H, chị L nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Anh H, chị L có quyền thăm nom chăm sóc con chung không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung và nợ chung: Anh H và chị L trình bày không có, không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.
2. Về án phí: Anh Nguyễn Thanh H phải nộp số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn. Số tiền tạm ứng án phí 300.000đ anh H đã nộp theo biên lai thu số 0004161 ngày 05-5-2021 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai được chuyển thành án phí.
3. Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (Sửa đổi, bổ sung năm 2014).
4. Về quyền kháng cáo: Anh H và chị L được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Tân Phú; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - Chi cục THA huyện Tân Phú; - Các đương sự (để thi hành); - UBND xã Phú Trung (số 41, quyển số:01/2015, ngày 07/7/2015) để ghi vào sổ hộ tịch; - Lưu hồ sơ, văn thư. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thúy Lan |