vanban.org

Bản án 61/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bà Nguyễn Thị Tuyết T được ly hôn với ông Nguyễn Văn H.

Về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Giao các cháu Nguyễn Thị Yến N sinh ngày 02/3/2009 và cháu Nguyễn Thị Diệu L sinh ngày 03/9/2015 cho bà Nguyễn Thị Tuyết T được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án hôn nhân gia đình giữa nguyên đơn Nguyễn Thị Tuyết T và bị đơn Nguyễn Văn H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bà Nguyễn Thị Tuyết T được ly hôn với ông Nguyễn Văn H.
  • Căn cứ chính? Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAM LÂM CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 04/11/2021
V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAM LÂM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoài Tâm

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Nguyễn Thị Bội Hoàn

2/ Ông Lê Quý Hùng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Trúc – Thư ký Toà án nhân dân huyện Cam Lâm.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Ngọc – Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 36/2021/TLST-HNGĐ ngày 01/02/2021 về việc: “ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2021/QĐST-HNGĐ ngày 24/9/2021, Quyết định hoãn phiên tòa số 56/2021/QĐST-HNGĐ ngày 19/10/2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Tuyết T - Sinh năm: 1987

Địa chỉ: thôn T, xã S, huyện C, tỉnh Khánh Hòa. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H - Sinh năm: 1983

Địa chỉ: thôn T, xã S, huyện C, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt tại phiên toà)

NỘI DUNG VỤ ÁN :

Trong đơn khởi kiện đề ngày 21/01/2021, bản tự khai ngày 11/3/2021, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tuyết T trình bày:

Về yêu cầu ly hôn: Bà Nguyễn Thị Tuyết T và ông Nguyễn Văn H tự nguyện kết hôn với nhau năm 2008 và được UBND xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận cấp giấy chứng nhận kết hôn số 102, quyển số 01/2008 ngày 23/6/2008.

Trong thời gian chung sống, bà T và ông H đã nảy sinh mâu thuẫn, thường xuyên kình cãi nhau. Nguyên nhân là do ông H không có trách nhiệm với gia đình, thường xuyên đi nhậu về khuya rồi gây sự với bà T và gia đình bà nhưng bà T đã nhiều lần bỏ qua để giữ hòa khí gia đình. Ông H đi tu với một người thầy ở thôn Cây Xoài, xã Suối Tân, huyện Cam Lâm nhưng bà T không đồng ý. Từ tháng 12/2020, ông H bỏ nhà đi luôn, thỉnh thoảng mới về thăm nhà. Bà T và ông H đã sống ly thân nhau đã hơn hai năm, không ai quan tâm đến ai. Bà T cho rằng tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã quá trầm trọng, vợ chồng không thể hàn gắn để tiếp tục chung sống cùng nhau được nên bà T yêu cầu Toà án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Văn H.

Về yêu cầu nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Bà T và ông H có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Yến N sinh ngày 02/3/2009 và cháu Nguyễn Thị Diệu L sinh ngày 03/9/2015. Hiện nay, cháu N, L đang ở với bà T. Bà T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục cả hai con và không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.

Về yêu cầu chia tài sản chung khi ly hôn: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát có ý kiến như sau:

- Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tuyết T đã chấp hành đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn ông Nguyễn Văn H không chấp hành các quy định của pháp luật về tố tụng, đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm.

- Về nội dung: Yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ và hợp lý nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc ly hôn cũng như về việc nuôi con, cấp dưỡng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Tòa án nhận định:

[1] Về tố tụng:

Ngày 21/01/2021, bà Nguyễn Thị Tuyết T có đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Nguyễn Văn H, đây là quan hệ tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm đã thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tuyết T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn ông Nguyễn Văn H đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.

[2] Về yêu cầu ly hôn: Bà Nguyễn Thị Tuyết T và ông Nguyễn Văn H tự nguyện kết hôn với nhau năm 2008 và được UBND xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận cấp giấy chứng nhận kết hôn số 102, quyển số 01/2008 ngày 23/6/2008, đây là hôn nhân hợp pháp. Trong thời gian chung sống giữa bà T và ông H đã xảy ra mâu thuẫn với nhau. Nguyên nhân là do ông H không có trách nhiệm với gia đình, thường xuyên uống rượu bia rồi gây sự với bà T, từ tháng 12/2020 ông H đã bỏ nhà đi nơi khác sinh sống. Bà T và ông H đã sống ly thân nhau đã hơn hai năm, không ai quan tâm đến ai. Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Tòa án đã triệu tập nhiều lần để hòa giải nhưng ông H vẫn cố tình vắng mặt, cho thấy thái độ bất cần, không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng của ông H. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa bà T và ông H đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Tuyết T là có căn cứ.

[3] Về yêu cầu nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Bà T và ông H có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Yến N sinh ngày 02/3/2009 và cháu Nguyễn Thị Diệu L sinh ngày 03/9/2015. Hội đồng xét xử xét thấy, hiện nay bà T là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc các cháu N, L và cháu N cũng có nguyện vọng ở với mẹ. Vì vậy, để đảm bảo cho việc nuôi dưỡng, chăm sóc và phát triển thể chất của các cháu N, L nên chấp nhận yêu cầu của bà T, giao các cháu N, L cho bà T nuôi dưỡng, giáo dục.

Bà T không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con nên không xét.

[4] Về yêu cầu chia tài sản chung khi ly hôn: Bà T không yêu cầu giải quyết nên không xét.

[5] Về án phí: Bà T phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bà Nguyễn Thị Tuyết T được ly hôn với ông Nguyễn Văn H.

2. Về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con:

- Giao các cháu Nguyễn Thị Yến N sinh ngày 02/3/2009 và cháu Nguyễn Thị Diệu L sinh ngày 03/9/2015 cho bà Nguyễn Thị Tuyết T được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị Tuyết T không yêu cầu nên không xét.

Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con; không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.

3. Về yêu cầu chia tài sản chung khi ly hôn: Bà Nguyễn Thị Tuyết T không yêu cầu giải quyết nên không xét.

4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Tuyết T phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số AA/2020/0001843 ngày 28/01/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cam Lâm; bà Nguyễn Thị Tuyết T đã nộp đủ tiền án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.

5. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

6. Quy định: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ