vanban.org

Bản án 61/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho chị Lê Thị H ly hôn anh Đặng V; quan hệ hôn nhân chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Về nuôi con chung: Giao cháu Đặng Lê Hoài A, sinh ngày 05/6/2015 cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục kể từ khi ly hôn đến khi cháu đủ 18 tuổi. Anh V không nộp tiền cấp dưỡng cho cháu A. Anh Đặng V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Lê Thị H và anh Đặng V ly hôn vì mâu thuẫn gia đình, tranh chấp nuôi con khi ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho chị Lê Thị H ly hôn anh Đặng V; quan hệ hôn nhân chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN A LƯỚI
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
_______________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 30/9/2021.
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A LƯỚI, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Văn Vĩnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Dương

2. Bà Lê Thị Mai Loan.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Vinh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa: Ông Hồ Văn Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 09 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 35/2021/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2021 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 8 năm 2021 giữa các đương sự, đã bị tạm hoãn theo quyết định số: 01/2021/QĐST-HNGĐ ngày 15/9/2021.

1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị H, sinh ngày 26 tháng 6 năm 1992;

Nơi cư trú: Thôn A2, xã Hồng K, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt.

2. Bị đơn: Anh Đặng V, sinh ngày 23 tháng 12 năm 1992;

Nơi cư trú: Thôn A2, xã Hồng K, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.

3. Những người tham gia tố tụng khác:

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị Lê Thị H: Bà Huỳnh Thị Ngọc T – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh Đặng V và cháu Đặng Lê Hoài A: Bà Trương Thị Hồng N - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Thừa Thiên Huế.Có mặt

- Người làm chứng: Ông Hồ Đặng V; sinh năm: 1945

Nơi cư trú: Thôn A2, xã Hồng K, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên huế. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện đề ngày 03/6/2021 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lê Thị H trình bày:

Chị H và anh V tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 03/12/2014 tại Ủy ban nhân dân xã Hồng K, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế. Sau kết hôn vợ chồng sống với nhau hòa thuận, hạnh phúc, nhưng vì cuộc sống khó khăn, chị H phải đi làm thuê, mà thu nhập không đủ trang trải gia đình. Mỗi năm chị H phải vào làm thuê ở thành phố Đà Nẵng khoảng 3 tháng theo mùa vụ. Anh V cũng đi làm thuê nhưng công việc và thu nhập không ổn định. Năm 2016, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, không hòa thuận, anh V đánh đập, chửi bới, thiếu trách nhiệm với gia đình. Tháng 4/2021, chị H đã về ở nhà mẹ đẻ tại thôn RL, xã Hồng B, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế. Chị H và anh V đã ly thân, không ai quan tâm đến nhau, chị H yêu cầu được ly hôn.

Về con: Vợ chồng có một con chung là cháu Đặng Lê Hoài A, sinh ngày 05/6/2015. Chị H là người đang chăm sóc, nuôi dưỡng, chị H xin được nuôi con, không yêu cầu anh V nộp tiền cấp dưỡng.

Về tài sản và nghĩa vụ về tài sản: Chị H trình bày không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Phía bị đơn: Anh Đặng V, đã được Tòa án thông báo thụ lý vụ án về việc chị Lê Thị H xin ly hôn và yêu cầu được quyền nuôi con, đồng thời đã triệu tập đến làm việc vào các ngày 02/7/2021 và phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Hồng K, triệu tập anh V đến trụ sở Ủy ban nhân dân xã để ghi lời khai vào ngày 03/8/2021, anh V ký giấy triệu tập nhưng không đến; anh V đã ký nhận thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 17/8/2021 nhưng vẫn không đến, Tòa án không hòa giải được. Phiên tòa ngày 15/9/2021 anh V không đến mà không có lý do.

Ngày 24/8/2021, Tòa án đã gặp ông Hồ Đặng V (Cha của Đặng V) để xác minh thông tin về tình trạng mâu thuẫn vợ chồng của chị H và anh V, ông V cũng cho biết tháng 3/2019 mẹ anh V qua đời, thì anh V có dấu hiệu bệnh, hay đi lang thang, khuyên bảo không nghe, không có việc làm, đời sống hàng ngày dựa vào ông V. Đối với tình cảm vợ chồng của anh V và chị H thì ông cũng có trách nhiệm nhắc nhở, động viên vợ chồng nên có trách nhiệm với nhau trong tình cảm và xây dựng kinh tế gia đình. Tháng 4/2021, nhà chung của chị H và anh V bị cháy chị H về nhà mẹ đẻ của chị cho đến nay. Con của chị H và anh V thì có lúc ở với ông lúc sang chỗ chị H. Hiện nay cháu Đặng Lê Hoài A đang ở với chị H.

Bà Huỳnh Thị Ngọc T bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị Lê Thị H trình bày: Theo đơn và nguyện vọng của chị H, hai vợ chồng đã sống ly thân thời gian dài không quan tâm yêu thương, chăm sóc nhau. Đề nghị cho chị H được ly hôn anh V và nuôi cháu A vì tình cảm mẹ và con gắn bó, không thể thiếu nhau được. Chị H cũng có khă năng tài chính để nuôi con không yêu cầu anh V nộp tiền cấp dưỡng.

Bà Trương Thị Hồng N bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh Đặng V và cháu Đặng Lê Hoài A trình bày: Là người được ông Hồ Đặng V yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh Đặng V và cháu Đặng Lê Hoài A, chị đã trực tiếp gặp anh Đặng V, động viên anh V đến tham gia phiên tòa, sang nay anh V đã đến phiên tòa nhưng khi phiên tòa khai mạc thì anh V không tham gia. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ pháp luật để giải quyết tình cảm của anh V và chị H và việc nuôi dạy con chung.

Người làm chứng ông Hồ Đặng V trình bày: Anh V có dấu hiệu bệnh tâm thần hay đi lang thang không lao động sản xuất, chị H về nhà mẹ đẻ đã mấy tháng, nay vợ chồng mâu thuẫn ly hôn thì tùy ý hai vợ chồng. Cháu A nay đang ở với chị H, thỉnh thoảng chị H có đem cháu A đến thăm ông.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý, Thẩm phán thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tòa án đã lấy lời khai, thu thập chứng do nguyên đơn cung cấp, còn bị đơn đã được triệu tập hợp lệ ngày 02/7/2021 và ngày 03/8/2021 anh V đã nhận giấy triệu tập nhưng không đến. Phiên hòa giải ngày 17/8/2021 anh V không đến. Phiên tòa mở ngày 15/9/2021 đã giao giấy triệu tập, niêm yết hợp lệ, anh V không đến, không có lý do. Tại phiên toà đến trước khi nghị án Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng. Nguyên đơn và những người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Anh V vắng mặt không có lý do lần thứ 2, như vậy anh V đã không thực hiện đúng quy định của pháp luật.

- Về việc giải quyết vụ án: Chị Lê Thị H và anh Đặng V kết hôn hợp pháp, đã có một con chung là cháu Đặng Lê Hoài A, sinh ngày 05/6/2015, Vợ chồng mâu thuẫn do lối sống không hợp, không thể duy trì lối sống chung, cùng nhau xây dựng gia đình hòa thuận hạnh phúc. Vợ chồng đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H. Con chung: cháu A chưa đủ 7 tuổi nên không phải hỏi ý kiến của cháu, nhưng hiện nay đang ở với mẹ, chị H xin nuôi là phù hợp, đề nghị cần chấp nhận. Chị H không yêu cầu anh V nộp tiền cấp dưỡng thì công nhận và không buộc anh V nộp tiền cấp dưỡng.

Về tài sản và nghĩa vụ trả nợ không yêu cầu nên không xem xét.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 và áp dụng Điều 39 của Bộ luật Dân sự giải quyết cho chị H được ly hôn. Áp dụng Điều 58, khoản 2, 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình giao cháu Đặng Lê Hoài A cho chị H trực tiếp nuôi, anh V không phải cấp dưỡng nuôi con. Căn cứ Điều 9 Luật Phí và lệ phí; Điều 146 và 147 Bộ Luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội chị H phải nộp án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, trên cơ sở kết quả tranh tụng tại phiên toà, Toà án nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn chị Lê Thị H khởi kiện yêu cầu giải quyết việc ly hôn và nuôi con sau khi ly hôn. Bị đơn anh Đặng V đều cư trú tại huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện A Lưới thụ lý vụ án là đúng quy định.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị H và anh Đặng V kết hôn có đăng ký, được Ủy ban nhân dân xã Hồng Kim, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 26 ngày 03/12/2014. Thời điểm kết hôn không vi phạm điều cấm tại Điều 8 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000. Vì vậy, Hội đồng xét xử kết luận quan hệ hôn nhân là hợp pháp.

Về yêu cầu ly hôn: Chị H trình bày vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc, nhưng vì cuộc sống có nhiều khó khăn nên vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Năm 2016 anh V đánh đập, chửi bới, thiếu trách nhiệm với gia đình nên vợ chồng không còn hòa thuận. Chị H đem theo cháu Đặng Lê Hoài A về ở nhà mẹ đẻ tại thôn RL, xã Hồng B, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế. Chị H và anh V đã ly thân, không ai quan tâm đến nhau, chị H yêu cầu được ly hôn nên chấp nhận.

Tòa án đã thông báo thụ lý vụ án, triệu tập anh V đến làm việc vào các ngày 02/7/2021, phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Hồng K, triệu tập anh V đến trụ sở Ủy ban nhân dân xã để ghi lời khai vào ngày 03/8/2021, anh V ký giấy triệu tập nhưng không đến; anh V đã ký nhận thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 17/8/2021 nhưng vẫn không đến, Tòa án không hòa giải được. Phiên tòa ngày 15/9/2021, anh V không đến mà không có lý do nên phải hoãn. Ngày 16/9/2021, Tòa án triệu tập anh V và niêm yết các thủ tục tố tụng tại nhà ông Hồ Đặng Vi nơi anh V ở, Trụ sở Ủy ban nhân dân xã Hồng Kim, Trụ sở Tòa án nhân dân huyện A Lưới, nhưng hôm nay vẫn vắng mặt không có lý do.

Đây là trường hợp không hòa giải được, do bị đơn không hợp tác. Căn cứ lời khai của Nguyên đơn, lời khai của ông Hồ Đặng V thì vợ chồng đã ly thân, không quan tâm tới nhau, vợ chồng đã không có nghĩa vụ và trách nhiệm chia sẻ, yêu thương nhau, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được; chấp nhận yêu cầu của chị Lê Thị H và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát; Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cho Chị H ly hôn anh V.

Về con: Anh V không đến tham gia phiên tòa, chị H đề nghị được nuôi con, không buộc anh V nộp tiền cấp dưỡng, cần được chấp nhận.

Anh V không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại khoản 3 Điều 82 và khoản 2 Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình..

Tài sản và nghĩa vụ về tài sản: Các đương sự không có yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, cần buộc nguyên đơn chịu án phí ly hôn theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Cho chị Lê Thị H ly hôn anh Đặng V; quan hệ hôn nhân chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

2. Về nuôi con chung: Giao cháu Đặng Lê Hoài A, sinh ngày 05/6/2015 cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục kể từ khi ly hôn đến khi cháu đủ 18 tuổi. Anh V không nộp tiền cấp dưỡng cho cháu A.

Anh Đặng V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về án phí sơ thẩm: Chị Lê Thị H phải nộp án phí ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu số: AA/2016/0002672 ngày 10 tháng 6 năm 2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế, chị H không phải nộp thêm.

Chị H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án, anh V không có mặt được kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày niêm yết bản án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ