- Tranh chấp gì? án hình sự — "vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 63/2020/TLST - HS ngày 30/10/2020 - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thế V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN B TỈNH HÀ NAM Bản án số: 61/2020/HSST Ngày: 18/11/2020 |
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm"phán"–"Chủ"toạ"phiên"toà: Ông Đặng Trần Anh Dũng.
Các"Hội"thẩm"nhân"dân: Ông Trịnh Đức Mậu và ông Nguyễn Huy Sự.
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Giang Yên – Thư ký Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Hà Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Tấn– Kiểm sát viên.
Trong ngày 18/11/2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 63/2020/TLST - HS ngày 30/10/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2020/QĐXXST - HS ngày 05/11/2020 đối với bị cáo:
Nguyễn Thế V, sinh năm 1994; giới tính: Nam; nơi đăng ký HKTT và nơi cư trú trước khi bị tạm giữ, tạm giam: Thôn x, xã Đ, thành phố P, tỉnh Hà Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; Đảng, đoàn: Không; con ông Nguyễn Văn S (đã chết) và bà Nguyễn Thị T; có vợ là: Nguyễn Thị Th và 02 con, lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2016. Tiền án: Không. Tiền sự: Ngày 19/6/2017 TAND thành phố P ra Quyết định số 15/QĐ-TA áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm Điều trị nghiện ma túy và phục hồi chức năng tâm thần tỉnh Hà Nam. Ngày 01/9/2019 chấp hành xong biện pháp xử lý hành chính. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 06/8/2020, chuyển tạm giam từ ngày 09/8/2020; hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện B, tỉnh Hà Nam. (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do nghiện ma túy nên khoảng 09 giờ 30 phút ngày 06/8/2020, bị cáo Nguyễn Thế V đi nhờ xe mô tô của một người đàn ông không quen biết đến thôn N, xã Đ, huyện B, tỉnh Hà Nam để mua Heroine sử dụng. Đến nơi, V đi bộ đến đoạn đường khu vực nghĩa trang của thôn N mua của một người phụ nữ đứng ở ven đường 01 gói Heroine với giá 200.000 đồng rồi đi bộ về nhà. Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày khi V đi đến đoạn đường liên xã thuộc thôn N, xã Đ, huyện B, tỉnh Hà Nam thì bị lực lượng Công an huyện B phối hợp cùng Công an xã Đ kiểm tra. V đã tự giác giao nộp cho lực lượng Công an 01 (một) gói bằng giấy bạc màu trắng đang cầm trong lòng bàn tay trái và khai nhận đó là Heroine cất giấu để sử dụng. Lực lượng Công an đã đưa V về trụ sở UBND xã Đ lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng là 01 (một) gói bằng giấy bạc màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục, được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT.
Cơ quan CSĐT Công an huyện B đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Vương tại thôn x, xã Đ, thành phố P nhưng không thu giữ được đồ vật, tài sản, tài liệu gì liên quan đến vụ án.
Tại bản Kết luận giám định số 865/GĐKTHS ngày 07/8/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: “Mẫu"bột"dạng"cục"màu"trắng" trong"01"(một)"gói"được"gói"ngoài"bằng"giấy"bạc"màu"trắng"được"niêm"phong"ký" hiệu"QT"gửi"giám"định"là"ma"túy."Loại"ma"túy:"Heroine."Khối"lượng"mẫu"QT:" 0,276"g"(không"phảy"hai"trăm"bảy"mươi"sáu"gam)”.
Tại Cáo trạng số 65/CT - VKS - MT ngày 29/10/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Hà Nam đã truy tố Nguyễn Thế V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Hà Nam đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tuyên bị cáo Nguyễn Thế V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và xử phạt bị cáo từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Tịch thu tiêu huỷ số ma túy còn lại sau giám định.
Tại phiên tòa, bị cáo V đã khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy như nội dung vụ án đã nêu ở trên và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về các quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT Công an huyện B; Viện kiểm sát nhân dân huyện B và hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại gì về quyết định tố tụng, hành vi tố tụng.
[2] Về tội danh: Hành vi tàng trữ trái phép 0,276" gam Heroine nhằm sử dụng của bị cáo Nguyễn Thế V bị lực lượng Công an bắt quả tang vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 06/8/2020 tại đoạn đường thuộc địa bàn thôn N, xã Đ, huyện B, tỉnh Hà Nam đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
[3] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng tình tiết “Người" phạm" tội" thành" khẩn" khai" báo," ăn" năn" hối" cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
[4] Về hình phạt: Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; vi phạm chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma túy. Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị đưa đi cai nghiện bắt buộc nay tiếp tục phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy vì vậy Hội đồng xét xử thấy phải áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo riêng và phòng ngừa chung cho xã hội. Khi quyết định mức hình phạt, Hội đồng xét xử cũng xem xét đến hoàn cảnh gia đình và nhân thân của bị cáo.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét tại biên bản xác minh tài sản của Cơ quan CSĐT Công an huyện B đã xác định bị cáo không có tài sản nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về vật chứng của vụ án: Xét số ma túy còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành do vậy cần tịch thu tiêu hủy theo quy định.
[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định.
[8] Các tình tiết khác liên quan đến vụ án: Về nguồn gốc số Heroine đã thu giữ và đối tượng đã bán Heroine cho bị cáo V: Tài liệu điều tra có trong hồ sơ vụ án không đủ căn cứ xác định, làm rõ nguồn gốc số Heroine và đối tượng có liên quan để xử lý.
Vì"các"lẽ"trên,"
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự.
Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá 14.
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thế V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy".
2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế V 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ (06/8/2020).
3. Về vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ số ma túy còn lại sau giám định được đựng trong phong bì niêm phong có số 865/GĐKTHS của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định được xác định theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/10/2020 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện B và Chi cục Thi hành án dân sự huyện B.
4. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Thế V phải nộp 200.000 đồng.
Án xử công khai; báo cho bị cáo V biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi"nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Hà Nam;
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà
- VKSND tỉnh Hà Nam;
Đặng Trần Anh Dũng
- VKSND huyện B;
(Đã ký)
- Công an huyện B;
- Nhà tạm giữ Công an huyện B;
- Chi cục THADS huyện B;
- UBND xã Đ, thành phố P;
- Bị cáo;
- Lưu hồ sơ và văn phòng.