vanban.org

Bản án 61/2020/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Phú Thọ Tuyên án 29/07/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 29/07/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ Điểm a Khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

[2] Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ba D phạm tội “Đánh bạc”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Huỳnh Đ cùng đồng phạm phạm tội Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ Điểm a Khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 123 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2020/HSPT
Ngày 29 tháng 7 năm 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Văn Việt

Các Thẩm phán : Ông Tạ Văn Thành

Ông Nguyễn Việt Tiến

-Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Mỹ Hạnh - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Trương Thị Tuyến - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đưa ra xét xử theo trình tự phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 51/2020/HSPT-HS ngày 12 tháng 6 năm 2020, do có kháng cáo của các bị cáo Đinh Huỳnh Đ, Đinh Xuân H, Đinh Hồng S, Lưu Văn T, Nguyễn Ba D đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 10/2020/HSST ngày 28/4/2020 của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Phú Thọ.

- Các bị cáo kháng cáo:

1, ĐINH HUỲNH Đ; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 22/01/1993 tại xã X, huyện L, tỉnh Phú Thọ; Nơi cư trú: Khu T, xã X, huyện L, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Chức vụ đảng, đoàn thể: Không; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đinh Công P (Đã chết) và bà Đào Thị H, sinh năm 1953; Vợ: Phùng Thị Vân A, sinh năm 1998; Con: Có 01 con sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tốt.

2, ĐINH XUÂN H; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 03/03/1993 tại xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ; Nơi cư trú: Khu 1, xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Chức vụ đảng, đoàn thể: Không; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đinh Văn H, sinh năm 1960 và bà Đinh Thị T, sinh năm 1969; Vợ: Hoàng Thị Y, sinh năm 1995; Con: Có 02 con, lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tốt.

3, ĐINH HỒNG S; Tên gọi khác: Không ; Sinh ngày 06/06/1975 tại xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ; Nơi cư trú: Khu 1, xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Chức vụ đảng, đoàn thể: Không; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đinh Viết B (đã chết) và bà: Đinh Thị L, sinh năm 1938; Vợ: Đinh Thị H, sinh năm 1979; Con: Có 02 con, lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2009; Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Tốt.

4, LƯU VĂN T; Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 27/04/1991 tại xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ; Nơi cư trú: Khu 1, xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 3/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Chức vụ đảng, đoàn thể: Không; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lưu Văn H, sinh năm 1954 và bà: Nguyễn Thị T, sinh năm 1953; Vợ: Trần Thị Thanh H, sinh năm 1992; Con: Có 02 con, lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Tốt.

5, NGUYỄN BA D; Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 29/11/1985 tại xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ; Nơi cư trú: Khu 1, xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Chức vụ đảng, đoàn thể: Không; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn P, sinh năm 1960 và bà: Hoàng Thị C, sinh năm 1964; Vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1987; Con: Có 02 con, lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2008; Tiền án, Tiền sự: Không. Nhân thân: Tốt.

Các bị cáo Đ, H, S và T đều bị bắt tạm giữ từ ngày 15/12/2019 đến ngày 20/12/2019, được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi trú của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện, Viện kiểm sát nhân dân huyện và Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Phú Thọ từ ngày 20/12/2019 đến ngày 24/4/2020.

Sau khi phạm tội, bị cáo D bỏ trốn và bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L, tỉnh Phú Thọ ra Quyết định truy nã số 01 ngày 10/02/2020. Bị cáo ra đầu thú ngày 19/02/2020. Bị cáo D không bị bắt tạm giữ, tạm giam. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi trú của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện, Viện kiểm sát nhân dân huyện và Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Phú Thọ từ ngày 19/02/2020 đến ngày 24/4/2020.

Các bị cáo đang tại ngoại tại địa phương, nay đều có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Đ: Bà Phạm Thị Thắm - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Phú Thọ (có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo H, S: Bà Đinh Thị Hạnh - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Phú Thọ (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 15/12/2019, Nguyễn Ba D, Lưu Văn T, Đinh Xuân H cùng nhau đến nhà ông Nguyễn Văn P (là bố đẻ của D) để đánh bạc. Khi đến nhà ông P, ông P đã đi ngủ; D vào nhà ông P lấy 01 chiếc chiếu nhựa và 01 chiếc ga bằng vải dệt thổ cẩm, 01 bát sứ, 01 đĩa sứ của gia đình ông P ra trải ở hiên trước gian giữa nhà, rồi đi lấy mảnh tre khô làm quân bài vị có kích thước 01 x 0,6 cm, một mặt để mầu tự nhiên của mảnh tre, một mặt bôi mầu đen để làm quân bài đánh bạc.

Hình thức chơi: Các đối tượng thống nhất đánh bạc dưới hình thức chơi “Xóc đĩa” sát phạt nhau được thua bằng tiền cụ thể: cho 04 quân vị vào chiếc đĩa sứ rồi úp bát lên, một người đứng ra cầm cái xóc đĩa, còn mọi người ngồi chơi đoán chẵn, lẻ (Chẵn là có 02 hoặc 04 quân bài cùng màu ngửa lên, lẻ là có 01 quân bài khác màu và 03 quân bài cùng màu ngửa lên hoặc ngược lại), quy ước: đặt cửa chẵn là bên tay phải người cầm cái, cửa lẻ là bên tay trái người cầm cái, các con bạc đặt cược mỗi ván ít nhất là 50.000 đồng, không giới hạn số tiền đặt cược tối đa, khi mở bát ra, con bạc nào đặt cược đoán đúng theo cửa chẵn hoặc cửa lẻ thì thắng bằng số tiền đặt cược.

Sau khi thống nhất hình thức và cách đánh thì D, H, T cùng nhau ngồi xuống chiếu đánh bạc. Khi bắt đầu đánh bạc T là người cầm cái. D, H, T đánh bạc đến khoảng 22 giờ cùng ngày thì Đinh Huỳnh Đ và Đinh Hồng S đến cùng tham gia đánh bạc. Lúc này T chuyển cho H là người cầm cái. Đinh Hồng S, Đinh Huỳnh Đ, Đinh Xuân H, Lưu Văn T, Nguyễn Ba D tiếp tục đánh bạc đến 23 giờ 40 phút cùng ngày thì bị tổ công tác của Công an huyện L P hiện, bắt quả tang các đối tượng Đinh Hồng S, Đinh Huỳnh Đ, Đinh Xuân H, Lưu Văn T.

Vật chứng thu giữ gồm:

- 01 chiếu nhựa; 01 chiếc ga bằng vải dệt thổ cẩm; 01 đĩa sứ; 01 bát sứ; 04 quân vị hình tròn làm bằng tre khô.

- Thu giữ tại chiếu bạc số tiền 6.900.000 đồng (Sáu triệu chín trăm nghìn đồng);

Sau đó đưa các đối tượng cùng vật chứng về cơ quan điều tra Công an huyện L giải quyết theo thẩm quyền.

Còn Nguyễn Ba D đã bỏ trốn. Ngày 10/02/2020 cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra lệnh truy nã số 01 đối với Nguyễn Ba D. Đến ngày 19/02/2020 D đã đến phòng Cảnh sát hình sự Công an tỉnh Phú Thọ đầu thú.

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện L đã làm rõ tổng số tiền các đối tượng sử dụng vào đánh bạc là 6.900.000 đồng. Trong đó: Đinh Hồng S có 170.000 đồng; Nguyễn Ba D có 1.530.000 đồng; Lưu Văn T có 900.000 đồng; Đinh Xuân H có 3.000.000 đồng; Đinh Huỳnh Đ có 1.300.000 đồng.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 10/2020/HSST ngày 28/4/2020 của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Phú Thọ đã:

Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ba D phạm “Tội đánh bạc”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ba D 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành án.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố các bị cáo Đinh Hồng S, Đinh Huỳnh Đ, Đinh Xuân H phạm “Tội đánh bạc”.

Xử phạt: Bị cáo Đinh Xuân H 10 (Mười) tháng tù, được trừ 05 (Năm) ngày tạm giữ từ ngày 15/12/2019 đến ngày 20/12/2019. Thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành án.

Xử phạt: Bị cáo Đinh Huỳnh Đ 09 (Chín) tháng tù, được trừ 05 (Năm) ngày tạm giữ từ ngày 15/12/2019 đến ngày 20/12/2019. Thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành án.

Xử phạt: Bị cáo Đinh Hồng S 07 (Bảy) tháng tù, được trừ 05 (Năm) ngày tạm giữ từ ngày 15/12/2019 đến ngày 20/12/2019. Thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành án.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Lưu Văn T phạm “Tội đánh bạc”.

Xử phạt: Bị cáo Lưu Văn T 09 (Chín) tháng tù, được trừ 05 (Năm) ngày tạm giữ từ ngày 15/12/2019 đến ngày 20/12/2019. Thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành án.

Ngoài ra, bản án còn tuyên xử lý vật chứng, quyền kháng cáo, án phí và những vấn đề khác theo luật định.

Kháng cáo: Ngày 04/5/2020, các bị cáo Đinh Hồng S, Lưu Văn T kháng cáo xin giảm hình phạt hoặc cải tạo không giam giữ.

Ngày 04/5/2020, các bị cáo Đinh Huỳnh Đ, Đinh Xuân H, Nguyễn Ba D kháng cáo xin giảm hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Người bào chữa cho các bị cáo Đinh Huỳnh Đ, Đinh Xuân H, Đinh Hồng S có quan điểm xin giảm nhẹ hình phạt và xin cho các bị cáo được cải tạo ngoài xã hội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ có quan điểm căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Kháng cáo của các bị cáo trong vụ án trong hạn luật định được xem xét giải quyết.

Về nội dung vụ án:

Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như bản án sơ thẩm đã nêu, lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau và phù hợp với tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thấy rằng Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Phú Thọ tuyên phạt các bị cáo về tội "Đánh bạc" là đúng người, đúng tội, không oan.

Xét kháng cáo của các bị cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy:

Khi quyết định hình phạt, các bị cáo đều đã được Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc T hợp ít nghiêm trọng. Đối với các bị cáo Đ, H, S là người dân tộc thiểu số nên còn được Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo D còn được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là đầu thú theo Khoản 2 Điều 51 BLHS.

Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo thì mức hình phạt tù 12 tháng đối với bị cáo Nguyễn Ba D, 10 tháng đối với bị cáo Đinh Xuân H, 09 tháng đối với bị cáo Đinh Huỳnh Đ, 07 tháng đối với bị cáo Đinh Hồng S, 09 tháng đối với bị cáo Lưu Văn T mà bản án sơ thẩm đã tuyên là phù hợp với đường lối xét xử hình sự.

Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo Đinh Xuân H xuất trình thêm các tài liệu chứng minh bị cáo H có ông nội, ông ngoại, bà ngoại có thành tích trong kháng chiến được tặng thưởng huân huy chương và bằng khen; bố đẻ và anh trai bị cáo đều có thời gian cống hiến phục vụ trong quân đội. Các tình tiết này được xem xét để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo H theo quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, tại bản án sơ thẩm, Tòa án đã áp dụng Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để cân nhắc giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo H. Đối với các bị cáo khác không xuất trình thêm được tình tiết gì mới làm căn cứ để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Do vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, không chấp nhận quan điểm của người bào chữa và giữ nguyên hình phạt mà bản án hình sự sơ thẩm đã tuyên đối với các bị cáo.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm đối với các bị cáo H, Đ, S, T, D là phù hợp nên được chấp nhận.

Về án phí: Các bị cáo kháng cáo không được Hội đồng xét xử chấp nhận phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ Điểm a Khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Đinh Hồng S, Đinh Huỳnh Đ, Đinh Xuân H, Lưu Văn T, Nguyễn Ba D. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 10/2020/HSST ngày 28/4/2020 của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Phú Thọ.

[2] Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ba D phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ba D 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành án.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố các bị cáo Đinh Hồng S, Đinh Huỳnh Đ, Đinh Xuân H phạm “Tội đánh bạc”.

Xử phạt: Bị cáo Đinh Xuân H 10 (Mười) tháng tù, được trừ 05 (Năm) ngày tạm giữ từ ngày 15/12/2019 đến ngày 20/12/2019. Thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành án.

Xử phạt: Bị cáo Đinh Huỳnh Đ 09 (Chín) tháng tù, được trừ 05 (Năm) ngày tạm giữ từ ngày 15/12/2019 đến ngày 20/12/2019. Thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành án.

Xử phạt: Bị cáo Đinh Hồng S 07 (Bảy) tháng tù, được trừ 05 (Năm) ngày tạm giữ từ ngày 15/12/2019 đến ngày 20/12/2019. Thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành án.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Lưu Văn T phạm “Tội đánh bạc”.

Xử phạt: Bị cáo Lưu Văn T 09 (Chín) tháng tù, được trừ 05 (Năm) ngày tạm giữ từ ngày 15/12/2019 đến ngày 20/12/2019. Thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành án.

Áp dụng khoản 4 Điều 123 của Bộ luật tố tụng hình sự.

D trì các Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 24/4/2020 của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Phú Thọ cho đến thời điểm các bị cáo đi chấp hành án phạt tù.

Miễn hình phạt bổ sung đối với tất cả 05 bị cáo.

[3]Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Nguyễn Ba D, Đinh Hồng S, Đinh Huỳnh Đ, Đinh Xuân H, Lưu Văn T, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ