- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lương Văn Q phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Lương Văn Q (tên gọi khác: Trần Quang Q) 36 (ba mươi sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 28/8/2020.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 61/2020/HS-ST Ngày 30-12-2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Thanh Huyền
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Bùi Đình Ngát
Bà Vũ Thị Quỳ
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngà – Thư ký Tòa án nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 66/2020/TLST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2020/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 12 năm 2020 đối với bị cáo:
Lƣơng Văn Q (tên gọi khác: Trần Quang Q), sinh ngày 21/10/1978 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã N, huyện K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Văn T2 (đã chết) và bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1953; có vợ là Nguyễn Thị T4, sinh năm 1988 (đã ly hôn); có 01 con sinh năm 2006; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Tại bản án số 36/HSST ngày 08/11/2002 bị Tòa án nhân dân huyện K xử phạt 15 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tại bản án số 80/2011/HSST ngày 01/12/2011 bị Tòa án nhân dân huyện K xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (cả 02 tiền án đã được xóa án tích). Bị cáo bị tạm giam từ ngày 28/8/2020; có mặt.
- Người chứng kiến: Nguyễn Xuân C; vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ ngày 08/7/2020, Lương Văn Q đi xe bus đến đường tàu M, quận L, thành phố Hải Phòng mua 01 gói ma túy Heroine với giá 640.000 đồng của người phụ nữ không quen biết mang về nhà để sử dụng. Đến 19 giờ cùng ngày, khi Q đang đi về gần nhà thì bị Công an huyện K bắt quả tang và thu giữ vật chứng gồm: 01 gói nilon màu hồng kích thước 01x1,5cm, bên trong chứa 01 gói giấy có chất bột màu trắng. Sau khi xảy ra sự việc, Q bỏ trốn bị truy nã, đến ngày 28/8/2020 ra đầu thú tại Công an huyện K.
Tại kết luận giám định số 430/KLGĐ-MT ngày 17/7/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Chất bột màu trắng thu giữ của Lương Văn Q là ma túy, có khối lượng 1,82 gam, là loại Heroine.
Tại Cơ quan điều tra, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án đã nêu.
Tại bản Cáo trạng số 63/CT-VKSKT ngày 30/11/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện K đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận tội: Do nghiện chất ma túy, khoảng 17 giờ ngày 08/7/2020, Q đi đến đường tàu M, quận L mua 01 gói ma túy Heroine với giá 640.000 đồng của người phụ nữ không quen biết mang về nhà để sử dụng. Đến 19 giờ cùng ngày, khi Q đang đi về gần nhà thì bị Công an huyện K bắt quả tang và thu giữ vật chứng.
Sau quá trình thẩm vấn, đánh giá tính chất của vụ án cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K trình bày lời luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và xử lý vật chứng như bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Lương Văn Q mức án từ 30 tháng đến 42 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp và thu nhập kinh tế ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: Toàn bộ số vỏ bao gói của mẫu vật và 1,52 gam Heroine còn lại sau giám định được niêm phong trong một bì giấy, có dấu niêm phong số 430/2020/PC09.
Sau khi đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận, bị cáo thành khẩn khai nhận tội và tỏ ra ăn năn hối cải. Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện K, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản kiểm tra, biên bản khám xét, biên bản niêm phong vật chứng, kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Khoảng 19 giờ ngày 08/7/2020, tại thôn Đ, xã N, huyện K, Lương Văn Q đã có hành vi tàng trữ trái phép 1,82 gam ma túy Heroine để sử dụng thì bị bắt quả tang cùng vật chứng. Như vậy, hành vi của bị cáo Lương Văn Q đã thỏa mãn cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Đánh giá tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội, gây dư luận xấu trong nhân dân; đồng thời là điều kiện, nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Cần xử phạt nghiêm đối với bị cáo đồng thời để phòng ngừa tội phạm.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, bị cáo có 02 tiền án, mặc dù đều đã được xóa án tích nhưng cần đánh giá bị cáo có nhân thân xấu; cần xử phạt bị cáo với mức án nghiêm, cách ly bị cáo một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt cho xã hội.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; sau khi bỏ trốn bị cáo ra đầu thú; có mẹ đẻ tham gia dân công hỏa tuyến kháng chiến chống Mỹ. Do đó, cần cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp và thu nhập kinh tế ổn định, không có tài sản riêng; tại phiên tòa Viện kiểm sát đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là có cơ sở được chấp nhận, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Toàn bộ số vỏ bao gói của mẫu vật và 1,52 gam Heroine còn lại sau giám định được niêm phong trong một bì giấy, có dấu niêm phong số 430/2020/PC09; cần tịch thu tiêu hủy.
Trong vụ án này, Cơ quan điều tra chưa xác định được tên tuổi địa chỉ của người bán ma túy cho Q nên Quyết định tách ra để điều tra xử lý sau là phù hợp.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Lương Văn Q (tên gọi khác: Trần Quang Q) 36 (ba mươi sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 28/8/2020.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì thư giấy có dấu niêm phong số 430/2020/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/12/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện K).
Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Hải Phòng; - VKSND thành phố Hải Phòng; - VKSND huyện K; - Công an huyện K + PV 06; - Trại giam HP; - THA phạt tù + PC 10; - Chi cục THADS + Sở tư pháp; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ vụ án; lưu án văn. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Sỹ Mạnh Lƣơng Thị Ngân | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lƣu Thanh Huyền CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lƣu Thanh Huyền |