vanban.org

Bản án 61/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông Tuyên án 17/11/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: B cáo Trần Ngọc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. T ch thu tiêu hủy 0,0694 gam Methamphetamine hoàn lại sau giám đ nh; 01 cạc điện thoại Viettel mệnh giá 50.000 đồng (đã qua sử dụng), … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Ngọc H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: B cáo Trần Ngọc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẮK MIL
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2020/HSST
Ngày: 17-11-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL, TỈNH ĐẮKNÔNG

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Ngọc Thanh.

Các hội thẩm nhân dân: ng Nguy n Ti n T nh và ng Nguy n Duy Ch n.

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Th Huệ – Cán bộ Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Bà Niê Đoan Trinh – Kiểm sát viên.

Ngày 17-11-2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk N ng xét xử c ng khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 63/2020/HSST, ngày 28-10-2020 theo Quy t đ nh đưa vụ án ra xét xử số: 61/2020/QĐXXST-HS, ngày 06-11-2020 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil đối với b cáo:

Trần Ngọc H, sinh ngày 16-4-2002 tại tỉnh Đắk N ng; nơi cư trú: thôn Đ, xã M, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk N ng; nghề nghiệp: học sinh; trình độ học v n: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc t ch: Việt Nam; con ông: Trần Xuân Ph, sinh năm 1973 và con bà Phạm Th T, sinh năm 1977; tiền án, tiền sự: Kh ng; biện pháp ngăn chặn áp dụng: C m đi khỏi nơi cứ trú - Có mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Anh Trần Minh Q, sinh năm 2000; đ a chỉ: Th n A, xã M, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk N ng – Vắng mặt.

Ông Võ Văn S, sinh năm 1953; đ a chỉ: Th n 1, xã X, huyện Đắk Song, tỉnh Đắk N ng – Vắng mặt.

- Người chứng kiến: Anh Nguy n Kim C, sinh năm 1993; đ a chỉ: thôn Tr, xã X, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk N ng – Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và di n bi n tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 gi 00 phút, ngày 13-8-2020 Trần Ngọc H mượn xe máy biển số 64 - 927TB của Trần Minh Q đi đ n khu vực Trung tâm y t huyện Đắk Mil, gặp đối tượng tên Gi (không rõ nhân thân lai lịch) mua 800.000 đồng được 01 gói ma túy. Sau khi mua ma túy Trần Ngọc H mang về nhà l y ra sử dụng một phần, số ma túy còn lại chia thành 03 gói nilon và hàn kín lại c t d u trên tủ ti vi của gia đình.

Khoảng 15 gi 30 phút ,ngày 15-8-2020 Trần Ngọc H l y 03 gói ma túy và dùng băng keo đen dán dính vào cạc điện thoại Viettel loại mệnh giá 50.000 đồng (loại đã sử dụng) cầm trong lòng bàn tay phải và đón xe Taxi biển số 48A

- 076.08 do anh Nguy n Kim C làm tài x đi đ n xã M, huyện Đắk Mil với mục đích đi tìm nhà nghỉ để sử dụng ma túy. Tuy nhiên, khi đi đ n th n K, xã M, huyện Đắk Mil thì Trần Ngọc H b lực lượng c ng an xã M phát hiện bắt quả tang vào lúc 15 gi 55 phút, ngày 15-8-2020 thu giữ 03 gói ma túy được dán dính bằng băng keo đen vào cạc điện thoại Viettel loại mệnh giá 50.000 đồng (loại đã qua sử dụng). Sau đó, công an xã M đã chuyển Trần Ngọc H và tang vật cho cơ quan cảnh sát điều tra c ng an huyện Đắk Mil để xử lý theo quy đ nh pháp luật.

Tại k t luận giám đ nh số 128/KLMT-PC09 ngày 20-8-2020, của Phòng kỹ thuật hình sự C ng an tỉnh Đắk N ng k t luận: Tinh thể màu trắng đựng trong 03 gói nilon màu trắng, hàn kín được niêm phong trong bì thư gửi giám đ nh đều là ma túy, có tổng trọng lượng mẫu là 0,1221 gam, là Methamphetamine. Hoàn lại đối tượng giám đ nh: Mẫu tinh thể màu trắng trong bì thư hoàn lại sau giám đ nh có khối lượng là 0,0694 gam.

Bản cáo trạng số 63/CTr – VKS ngày 27-10- 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil truy tố b cáo Trần Ngọc H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy đ nh tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Đối tượng tên Gi là ngư i bán ma túy cho Trần Ngọc H trong quá trình điều tra, cơ quan cảnh sát điều tra c ng an huyện Đắk Mil chưa xác đ nh được nhân thân, lai l ch nên ti p tục điều tra xác minh làm rõ, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.

Đối với Trần Minh Q cho Trần Ngọc H mượn xe m t biển số 64 - 927TB nhưng kh ng bi t Trần Ngọc H sử dụng vào hành vi phạm tội. Vì vậy, không có căn cứ để xử lý theo quy đ nh pháp luật. Đối với Nguy n Kim C là tài x Taxi chở Trần Ngọc H đi từ xã M đ n xã M nhưng kh ng bi t H tàng trữ ma túy nên không đặt ra v n đề xử lý.

Tại phiên tòa, b cáo Trần Ngọc H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Bản cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Mil giữ quyền c ng tố tại phiên tòa sau khi phân tích, đánh giá tính ch t của vụ án, chứng minh hành vi phạm tội của b cáo cũng như các tình ti t giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự vẫn giữ nguyên quy t đ nh truy tố b cáo Trần Ngọc H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đề ngh Hội đồng xét xử:

Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, đề ngh xử phạt b cáo Trần Ngọc H từ 15 tháng đ n 18 tháng tù giam, th i hạn ch p hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Đề ngh Hội đồng xét xử tuyên t ch thu, tiêu hủy số Methamphetamine hoàn lại sau giám đ nh có khối lượng mẫu là 0,0694gam và 01 cạc điện thoại Viettel mệnh giá 50.000 đồng (đã qua sử dụng).

B cáo không bào chữa, không tranh luận mà chỉ đề ngh Hội đồng xét xử xem xét cho b cáo hưởng mức án nhẹ nh t.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận đ nh như sau:

. Về hành vi, quy t đ nh tố tụng của Cơ quan điều tra C ng an huyện Đắk Mil, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy đ nh của Bộ Luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa b cáo, những ngư i tham gia tố tụng kh ng có ai có ý ki n hoặc khi u nại về hành vi, quy t đ nh của Cơ quan ti n hành tố tụng, ngư i ti n hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quy t đ nh tố tụng của Cơ quan ti n hành tố tụng, ngư i ti n hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Tại phiên tòa, b cáo Trần Ngọc H đã khai nhận hành vi phạm tội mà b cáo đã thực hiện đúng như di n bi n sự việc mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil đã truy tố, l i khai của b cáo tại phiên tòa phù hợp với l i khai của b cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với l i khai của ngư i liên quan, ngư i làm chứng và các chứng cứ, tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra c ng khai tại phiên tòa, thể hiện: Vào lúc 15 gi 55 phút, ngày 15-8-2020 tại thôn K, xã M, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk N ng lực lượng c ng an xã M, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk N ng đã phát hiện và bắt quả tang Trần Ngọc H đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,1221 gam Methamphetamine với mục đích để sử dụng. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ pháp lý k t luận hành vi của b cáo Trần Ngọc Hùng đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy đ nh tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Điều 249 của Bộ luật hình sự quy đ nh:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

…

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”

. Hành vi phạm tội của b cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đ n chính sách độc quyền về quản lý các ch t ma túy của nhà nước; gây ảnh hưởng r t x u đ n trật tự tr an tại đ a phương. B cáo nhận thức được ma túy là ch t Nhà nước c m, vì ma túy gây tác hại x u đ n đ i sống kinh t - xã hội cũng như sức khỏe của con ngư i, là mầm mống phát sinh các tệ nạn xã hội và các tội phạm khác nhưng b cáo vẫn b t ch p pháp luật đề tàng trữ trái phép ch t ma túy. Do đó, cần phải áp dụng mức hình phạt thật nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội do b cáo gây ra, cách ly b cáo ra khỏi xã hội một th i gian nh t đ nh để b cáo cải tạo dưới sự giám sát của cơ quan có thẩm quyền, trở thành c ng dân tốt.

. Về các tình ti t tăng nặng trách nhiệm hình sự Không.

. Về tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa b cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, đây là tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy đ nh tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, cần áp dụng đối với b cáo là phù hợp.

. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

T ch thu tiêu hủy 0,0694 gam Methamphetamine hoàn lại sau giám đ nh và 01 cạc điện thoại Viettel mệnh giá 50.000 đồng (đã qua sử dụng), có đặc điểm như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 28-10-2020.

[7 . Xét quan điểm đề ngh của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đăk N ng tại phiên toà là có căn cứ, phù hợp quy đ nh pháp luật Hội đồng xét xử cần ch p nhận.

. B cáo Trần Ngọc H phải ch u 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: B cáo Trần Ngọc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt b cáo Trần Ngọc H 01 (Một) năm tù. Th i hạn ch p hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

2. Biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

T ch thu tiêu hủy 0,0694 gam Methamphetamine hoàn lại sau giám đ nh; 01 cạc điện thoại Viettel mệnh giá 50.000 đồng (đã qua sử dụng), có đặc điểm như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 28-10-2020.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Ngh quy t số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thư ng vụ Quốc hội quy đ nh về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc b cáo Trần Ngọc H phải ch u 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: B cáo có quyền kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm trong th i hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ