vanban.org

Bản án 61/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh Tuyên án 18/12/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Ngô Văn Nghĩa E phạm tội “Đánh ạc”.

Xử phạt bị cáo Ngô Văn Nghĩa E số tiền 25.000.000 đồng ( ai mươi lăm triệu đồng), sung công quỹ nhà nước. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, ổ sung năm 2017.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đá gà ăn tiền - phạm tội đánh bạc (điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Ngô Văn Nghĩa E phạm tội “Đánh ạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CÀNG LONG
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2020/HS - ST
Ngày: 18-12-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thạch Huỳnh Liêm

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thành Công

Ông Thạch Thanh Long

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Nhung – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Minh Lập - Kiểm sát viên.

Trong ngày 18 tháng 12 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 55/2020/TLST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 165/2020/QĐXXST – HS, ngày 03 tháng 12 năm 2020 đối với ị cáo:

và tên: Ngô Văn Nghĩa E, sinh năm 1990; Nơi cư trú: khóm 8, thị trấn C, huyện L, tỉnh TV; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ h c vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; iới t nh: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Ngô Văn T (chết) và bà Võ Thị E; bị cáo có 08 người anh chị em ruột, lớn nhất sinh năm 1972, nhỏ nhất sinh năm 1995; Tiền sự: 01 tiền sự (ngày 01/02/2019 bị Công an huyện Càng Long ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng, bị cáo nộp phạt vào ngày 29/3/2019), tiền án: không có; Bị cáo ị áp dụng iện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 02 tháng 11 năm 2020 hiện đang tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1987 (có đơn xin vắng)

Địa chỉ: Khóm 4,thị trấn C, huyện L, tỉnh TV.

+ Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1975 (có mặt)

Địa chỉ: Khóm 9,thị trấn C, huyện L, tỉnh TV.

+ Ông Nguyễn Văn Ch, sinh năm 1970 (có đơn xin vắng)

Địa chỉ: ấp Số 7, xã Mỹ Cẩm, huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh.

+ Ông Dương Nhật B, sinh năm 1987 (có đơn xin vắng)

Địa chỉ: ấp Số 7, xã Mỹ Cẩm, huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh.

+ Ông Than Văn V, sinh năm 1961 (có đơn xin vắng)

Địa chỉ: Khóm 5,thị trấn C, huyện L, tỉnh TV.

+ Ông Bùi Thành Đ, sinh năm 1988 (có đơn xin vắng)

Địa chỉ: Khóm 5,thị trấn C, huyện L, tỉnh TV.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 30 phút, ngày 25/3/2020 tại quán giải khát ở khóm 5, thị trấn Càng Long, Nguyễn Văn T, sinh năm 1987, nơi cư trú, khóm 4,thị trấn C, huyện L, tỉnh TV rủ Ngô Văn Nghĩa E, sinh năm 1990, nơi cư trú khóm 8, thị trấn C, huyện L, tỉnh TV tìm con gà trống để đá ăn thua ằng tiền, Nghĩa Eđồng ý và điều khiển xe mô tô đến nhà Nguyễn Văn D, sinh năm 1975, nơi cư trú khóm 9, thị trấn Càng Long để ắt con gà và rủ Dũng mang theo thêm 01 con gà trống đi đá gà. Cùng lúc đó, T g i điện thoại cho Dương Nhật B, sinh năm 1987, nơi cư trú ấp số 7, xã M, huyện L, tỉnh TV và Than Văn V, sinh năm 1961, nơi cư trú khóm 5,thị trấn C, huyện L, tỉnh TV mang theo mổi người 01 con gà trống đến địa điểm tại đất vườn của ông Nguyễn Văn Ch, sinh năm 1970, t a lạc ấp Số 7, xã M, huyện L, tỉnh TV để đá gà ăn thua ằng tiền. Lúc này khoảng 10 giờ cùng ngày tại địa điểm trên, T cung cấp cân đồng hồ hiệu Nhơn òa loại 05kg để cân gà trước khi đá, ăng keo quấn cựa còn cựa ằng kim loại thì của ai thì người đó sử dụng và T đứng ra làm tr ng tài cho trận đá gà, cụ thể:

Trận gà thứ nhất: Con gà của Nghĩa E (gà lông màu trắng - đen tr ng lượng 3,2kg) do Nghĩa E tự lấy cặp cựa quấn vào chân con gà để đá với con gà của Dương Nhật B (gà lông màu đỏ - đen tr ng lượng 3,1kg) do Bùi Thành Đ, sinh năm 1988, nơi cư trú khóm 5,thị trấn C, huyện L, tỉnh TV giúp quấn cựa, hai bên thống nhất đổ 04 cựa ằng kim loại, tỷ lệ thắng thua là 1:1, số tiền cá cược là 600.000 đồng cùng với xác con gà. Sau khi quấn cựa gà xong, Nghĩa Evà Bằng mang hai con gà ra sân còn T sử dụng chai nhựa đựng nước vẽ vòng làm sân và làm tr ng tài. Kết quả con gà của Bằng thua nên đưa số tiền 600.000 đồng và xác con gà cho T để đưa lại cho Nghĩa E và T giữ lại 100.000 đồng tiền xâu.

Trận gà thứ hai: Con gà của Nguyễn Văn D (gà lông màu đỏ-đen, tr ng lượng 3,3kg) đá với con gà của Than Văn V (gà lông màu vàng-đen tr ng lượng 3,2Kg). Sau khi cân gà, Dũng và Vẻ thống nhất đá 04 cựa ằng kim loại, tỷ lệ thắng thua là 1:1, số tiền cá cược là 600.000 đồng cùng với xác con gà (trận đá gà này Nghĩa Ekhông tham gia cá cược). Kết quả gà của Dũng thua, nên Dũng đưa số tiền 600.000 đồng cho Nghĩa E chung cho T để giao cho Than Văn V. Nguyễn Văn T nhận tiền nhưng chưa kịp đưa lại cho Than Văn V thì ị lực lượng Công an huyện Càng Long phát hiện, kiểm tra, lập iên xử lý cùng tang vật.

Vật chứng của vụ án đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/11/2020 gồm có: 06 cựa bằng kim loại; 01 cân đồng hồ hiệu Nhơn òa loại 05 kg; 01 chai bằng nhựa; 02 giỏ đệm dùng để đựng gà; 15 cuộn ăng keo, trong đó có 05 cuộn ăng keo đã qua sử dụng; 01 mảnh nhựa trong suốt có nhiều lỗ; tiền Việt Nam đồng 1.200.000 đồng; một xe mô tô biển kiểm soát 84E1 - 084.03 đã qua sử dụng của bị cáo. Đối với con gà trống lông màu đỏ - đen, tr ng lượng 3,1kg; con gà trống lông màu đỏ - đen, tr ng lượng 3,3kg; con gà trống lông màu trắng - đen, tr ng lượng 3,2kg và con gà trống lông màu vàng-đen, tr ng lượng 3,2kg đã chết, Cơ quan Công an đã lập biên bản tiêu hủy.

Cáo trạng số 58/CT-VKS-HS ngày 30 tháng 10 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long truy tố bị cáo Ngô Văn Nghĩa E về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Ngô Văn Nghĩa E đã khai và thừa nhận hành vi phạm tội của bản thân như đã khai tại cơ quan điều tra nhưng đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Quan điểm của Vị Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long: Vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng. Căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 31 và điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Ngô Văn Nghĩa E số tiền từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng và đề nghị xử lý vật chứng, án phí theo quy định pháp luật.

Bị cáo nói lời sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghị án: Bị cáo thừa nhận hành vi của mình như Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát, đồng thời có thái độ thành khẩn, ăn năng hối cải xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Càng Long, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về việc vắng mặt của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T, ông Nguyễn Văn Ch, ông Dương Nhật B, ông Than Văn V, ông Bùi Thành Đ nhưng đã có lời khai tại Cơ quan điều tra và có đơn xin vắng nên căn cứ khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án.

[3] Về chứng cứ và tội danh đối với hành vi của bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo Ngô Văn Nghĩa E đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan thể hiện trong hồ sơ vụ án, phù hợp với biên bản khám nghiệm, sơ đồ, bản ảnh vật chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như iên ản vi phạm hành chính, vật chứng thu giữ. Qua đó, xác định ngày 25/3/2020 tại đất vườn của ông Nguyễn Văn Ch, sinh năm 1970, t a lạc ấp Số 7, xã Mỹ Cẩm, huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh, bị cáo Ngô Văn Nghĩa E cùng với Dương Nhật B, Nguyễn Văn D, Than Văn V do Nguyễn Văn T tổ chức đá gà ăn thua ằng tiền, số tiền bị cáo Nghĩa Ecá cược là 600.000 đồng cùng với xác con gà là tiền đánh ạc. Do bị cáo đã ị xử phạt hành chính về hành vi đánh ạc chấp hành xong ngày 29/3/2019 chưa hết thời hạn được coi là chưa ị xử lý vi phạm hành chính theo quy định Điều 7 Luật xử lý vi phạm hành chính nên hành vi đá gà ăn thua ằng tiền trong ngày 25/3/2020 của bị cáo đã phạm tội “Đánh ạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Riêng đối với Dương Nhật B, Nguyễn Văn D, Than Văn V, Nguyễn Văn Ch, Bùi Thành Đ chưa có tiền án, tiền sự và hành vi, vi phạm trên không đủ yếu tố cấu thành tội phạm.

[4] Về nhân thân, t nh chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Ngô Văn Nghĩa E đang trong độ tuổi lao động, có việc làm, tạo thu nhập nhưng lại đam mê tham gia tệ nạn cờ bạc đá gà, xâm phạm trật tự công cộng, làm ảnh hưởng an ninh trật tự tại địa phương, ị cáo từng có tiền sự về hành vi đánh ạc, bị cáo nhận thức được hành vi đánh ạc là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện nên cần có hình phạt tương xứng nhằm giáo dục, răn đe để phòng ngừa chung. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm tr ng, ị cáo đã tự thú, chưa có tiền án, không có tình tiết tăng nặng, tại Cơ quan Điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, ị cáo đã có thái độ thành khẩn khai áo, thể hiện sự ăn năn hối cải, nên đây là những tình tiết được xem xét giảm nhẹ cho ị cáo. Do đó, khi lượng hình cần xem xét t nh chất, mức độ giảm nhẹ một phần hình phạt cho ị cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật mà không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, mà áp dụng phạt tiền là hình phạt chính là đủ răn đe đối với bị cáo.

[5] Về hình phạt ổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự có thể áp dụng hình phạt tiền đối với ị cáo Ngô Văn Nghĩa E, nhưng xét thấy ị cáo phạm tội t nghiêm tr ng với số tiền cược không lớn nên cần miễn áp dụng hình phạt ổ sung đối với ị cáo.

[6] Xử lý vật chứng: Số tiền đánh ạc là 1.200.000 đồng và 01 cân đồng hồ hiệu Nhơn òa loại 05 kg còn giá trị sử dụng cần tịch thu sung công quỹ nhà nước. Vật chứng thu giữ gồm 06 cựa bằng kim loại; 01 chai bằng nhựa; 02 giỏ đệm dùng để đựng gà; 15 cuộn ăng keo, trong đó có 05 cuộn ăng keo đã qua sử dụng; 01 mảnh nhựa trong suốt có nhiều lỗ đều có giá trị không lớn nên tịch thu tiêu hủy. Đối với xe mô tô biển kiểm soát 84E1 - 084.03 không phải là tài sản dùng để đánh ạc nên trả lại cho bị cáo Ngô Văn Nghĩa E nhưng cần giử lại để đảm bảo cho việc thi hành án trước khi trả cho bị cáo.

[7] Về iện pháp ngăn chặn: Căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự, cần hủy ỏ iện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú của Tòa án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh đối với ị cáo Ngô Văn Nghĩa E theo Quyết định cấm đi khỏi nơi cư trú số 55/2020/QĐ-TA ngày 11 tháng 12 năm 2020.

[8] Mức hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên được chấp nhận.

[9] Án ph hình sự sơ thẩm: Bị cáo Ngô Văn Nghĩa E phải nộp theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Ngô Văn Nghĩa E phạm tội “Đánh ạc”.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, ổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Ngô Văn Nghĩa E số tiền 25.000.000 đồng ( ai mươi lăm triệu đồng), sung công quỹ nhà nước.

2. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, ổ sung năm 2017.

Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền đánh ạc là 1.200.000 đồng (một triệu hai trăm ngàn đồng) của bị cáo Ngô Văn Nghĩa E và 01 cân đồng hồ hiệu Nhơn òa loại 05 kg của Nguyễn Văn T. Tịch thu tiêu hủy gồm 06 cựa bằng kim loại; 01 chai bằng nhựa; 02 giỏ đệm; 15 cuộn ăng keo, trong đó có 05 cuộn ăng keo đã qua sử dụng; 01 mảnh nhựa trong suốt có nhiều lỗ. Xe mô tô biển kiểm soát 84E1 - 084.03 được trả lại cho bị cáo Ngô Văn Nghĩa E nhưng cần giử lại để đảm bảo cho việc thi hành án hoặc sau khi chấp hành xong bản án. Tất cả vật chứng do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh đang tạm giữ theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/11/2020.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy an thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Ngô Văn Nghĩa E phải nộp 200.000 đồng ( ai trăm ngàn đồng).

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo ản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo ản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được ản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6; Điều 7 và Điều 9 của Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ