- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lý Thái N - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lý Thái N. Giữ nguyên quyết định về hình phạt của Bản án sơ thẩm số 15/2020/HS-ST, ngày 05-6-2020 của Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 61/2020/HS-PT. Ngày: 12-8-2020. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Bà Tăng Thị Thúy Nga
Các Thẩm phán:
Bà Tôn Thị Thanh Thúy
Ông Nguyễn Thành Hữu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Mỹ Nhiên- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Đào Tiến Thắng – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 36/2020/TLPT-HS, ngày 10-7-2020 đối với bị cáo Lý Thái N do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2020/HS-ST, ngày 05-6-2020 của Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.
- Bị cáo kháng cáo: Lý Thái N; Sinh năm 1994; Nơi sinh: Huyện M, tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: Ấp T, xã Đ, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Khmer; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Đạo phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lý Quang M, sinh năm: 1958 và bà Lý Thị Phương T, sinh năm: 1965; Vợ, con: Chưa có; Bị cáo có 02 anh em ruột, lớn là sinh năm: 1990, nhỏ nhất bị cáo; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05-10-2019 và chuyển tạm giam kể từ ngày 09-10-2019 cho đến nay (có mặt).
- Những người dưới đây không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo Hội đồng xét xử phúc thẩm không triệu tập gồm: Bị hại Tạ Thị Ngọc T; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Thi Thị L; Người làm chứng Lâm Kiếm H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 07 giờ ngày 05-10-2019 Lý Thái N điều khiển môtô Exciter biển số 83P2 - 481.XX chở Tăng Hồng D sinh năm 1994; cùng trú ấp Tâm Phước, xã Đại Tâm, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng, đi từ xã Đại Tâm xuống huyện Trần Đề để cướp giật tài sản, khi Nam điều khiển xe chạy trên đường Hai Bà Trưng vào chợ Lịch Hội Thượng thì phát hiện bà Tạ Thị Ngọc T sinh năm 1960; trú ấp Giồng Giữa, thị Trấn Lịch Hội Thượng, huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng đang điều khiển xe môtô biển số 83P1-379.XX từ trong chợ Lịch Hội Thượng ra tỉnh lộ 934 trên cổ có đeo sợi dây chuyền bằng vàng, nên Nam quay đầu xe lại điều khiển cùng chiều với xe bà T đang chạy phía trước, đến đoạn đường gần Trạm cấp nước thị trấn Lịch Hội Thượng Nam điều khiển xe áp sát bên tay trái của xe bà T để cho D ngồi sau dùng tay giật sợi dây chuyền mang trên cổ của bà T. Khi D giật được sợi dây chuyền trên cổ của bà T thì N tăng ga xe chạy nhanh ra tỉnh lộ 934 về thị trấn Trần Đề và chạy ra quốc lộ Nam Sông Hậu chạy về thị xã Vĩnh Châu đến đoạn rẽ qua tỉnh lộ 940 rồi chạy ra Quốc lộ 1 đến tiệm vàng H ở chợ Nhu Gia thuộc xã Thạnh Phú, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng bán sợi dây chuyền vàng vừa cướp giật được của bà T có trọng lượng là 05 chỉ 01 phân 08 ly loại vàng 14k, bán được số tiền là 11.469.000 đồng. Sau khi bán vàng xong, Nam tiếp tục chở D về thành phố Sóc Trăng, N hỏi D “có biết ở đâu bán ma túy không’’ D nói “biết”, D kêu N điều khiển xe đến hẻm đường Vành Đai đường Hùng Vương thành phố Sóc Trăng để mua ma túy đá, N đậu xe ở đầu hẻm cho D đi vào hẻm mua 300.000 đồng ma túy đá cho N, mua ma túy xong thì D đưa ma túy cho N bỏ vào trong túi quần Jean bên phải phía trước. Sau đó N tiếp tục chở D đi về ngã ba Trà Tim thì chia tiền bán vàng 5.700.000 đồng cho D, số tiền còn lại N cất giữ rồi N điều khiển xe đi về nhà, trên đường về N ghé vào tiệm bán card điện thoại gần cây xăng T để mua card điện thoại thì bị lực lượng công an huyện Mỹ Xuyên kiểm tra bắt quả tang Nam về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy trong túi quần Jean. Công an huyện Mỹ Xuyên đã tạm giữ và khởi tố Lý Thái N về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
Tại Bản kết luận giám định số 100/GĐMT-PC09 ngày 07-10-2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sóc Trăng, kết luận: Một bịch nylon màu trắng, được hàn kín, kích thước (3,8x 2) cm, bên trong có chứa tinh thể màu trắng, được thu giữ của Lý Thái N vào ngày 05-10-2019, qua giám định là ma túy, loại ma túy Methamphetamine, có khối lượng là 0,2791 gam.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 19/KL.HĐĐG ngày 04-11-2019 của Hội đồng định giá tài sản huyện Trần Đề, kết luận: Sợi dây chuyền vàng 14k loại phen lật có trọng lượng là 05 chỉ 01 phân 08 ly giá trị là 14.711.200 đồng.
Về phần trách nhiệm dân sự: Bị hại có yêu cầu bị cáo bồi thường sợi dây chuyền và mặt dây chuyền với số tiền là 16.711.200 đồng (gồm tiền sợi dây chuyền 14.711.200 đồng và cái mặt dây chuyền bị rớt mất khi bị cướp giật là 2.000.000 đồng). Bị cáo Nam đã bồi thường cho bị hại 11.000.000 đồng (gồm tiền mặt dây chuyền và sợi dây chuyền) bị hại đã đồng ý nhận số tiền nói trên và không yêu cầu bồi thường thêm.
* Tại bản án hình sự sơ thẩm số 15/2020/HS-ST, ngày 05-6-2020 của Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng đã quyết định:
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm d khoản 2 Điều 171; các điểm b, s khoản 1 Điều 51 (điểm b Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được áp dụng đối với tội Cướp giật tài sản); khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Tuyên bố bị cáo Lý Thái N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Cướp giật tài sản”.
- Xử phạt bị cáo Lý Thái N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 04 (bốn) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Tổng hợp hình phạt chung bị cáo phải chấp hành là 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05-10-2019.
- Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên phần xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
* Ngày 19-6-2020, bị cáo Lý Thái N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo;
- Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng giữ quyền công tố nhà nước đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo lập ngày 19-6-2020 và được Nhà tạm giữ - Công an huyện Trần Đề xác nhận cùng ngày là đúng quy định về người kháng cáo, thời hạn kháng cáo, hình thức, nội dung kháng cáo theo quy định của các điều 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm sẽ xem xét nội dung kháng cáo của bị cáo về việc xin giảm nhẹ hình phạt.
Xét về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận, vào ngày 05-10-2019 bị cáo N cùng Tăng Hồng D đi từ xã Đại Tâm chạy xe xuống thị trấn Lịch Hội Thượng, huyện Trần Đề đến ấp Giồng Giữa, thị trấn Lịch Hội Thượng, huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng để cướp giật tài sản và khi phát hiện bị hại Tạ Thị Ngọc T đang chạy xe, bị cáo cùng với D đã điều khiển xe chạy sát bị hại và nhanh chóng giật sợi dây chuyền vàng trên cổ của bị hại T đang điều khiển xe từ chợ Lịch Hội Thượng về nhà, rồi nhanh chóng chạy thoát. Sau đó bị cáo và D đến tiệm vàng H ở chợ Nhu Gia thuộc xã Thạnh Phú, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng bán sợi dây chuyền vàng vừa cướp giật được với số tiền là 11.469.000 đồng. Sau khi có tiền bị cáo cùng D điều khiển xe đến hẻm Vành Đai, đường Hùng Vương, thành phố Sóc Trăng mua 300.000 đồng ma túy đá để sử dụng và qua giám định là ma túy, loại ma túy Methamphetamine, có khối lượng là 0,2791 gam. Do vậy, Tòa án nhân dân huyện Trần Đề xét xử bị cáo Lý Thái N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Cướp giật tài sản” theo điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan cho bị cáo.
Đối với bị can Tăng Hồng D sau khi cùng bị cáo N thực hiện hành vi cướp giật tài sản đã bỏ trốn, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trần Đề đã ra quyết định khởi tố bị can và ra quyết định truy nã đối với bị can Tăng Hồng D. Đồng thời, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trần Đề đã tách vụ án và bị can theo Quyết định số 01/QĐ-CSĐT ngày 20-01-2020, khi nào bắt được bị can D sẽ tiếp tục điều tra xử lý.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo:
Khi lượng hình Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng; trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; khắc phục hậu quả cho bị hại xong đối với tội Cướp giật tài sản, quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, cấp sơ thẩm áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ nêu trên là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt với lý do trước khi phạm tội bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, cha của bị cáo là thương binh; trong quá trình giải quyết vụ án bị cáo thật sự đã nhận ra khuyết điểm và thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, giúp đỡ cơ quan chức năng nhanh chóng làm sáng tỏ vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo mức hình phạt 05 năm 06 tháng tù là quá nặng.
Xét thấy, các tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đã được cấp sơ thẩm xem xét và áp dụng cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đối với tình tiết bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, cha của bị cáo là thương binh thuộc tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, mặc dù cấp sơ thẩm nhận định thiếu nhưng phần quyết định Tòa án cấp sơ thẩm có áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên cấp phúc thẩm nêu lên để cấp sơ thẩm rút kinh nghiệm. Đối với lý do bị cáo nêu ra là bị cáo giúp đỡ cơ quan chức năng nhanh chóng làm sáng tỏ vụ án này, thấy rằng bị cáo bị bắt khi phạm tội quả tang và sự việc bị cáo cướp giật tài sản của bị hại T đã được Công an huyện Trần Đề tiến hành trích xuất hình ảnh từ camera an ninh trên địa bàn khu vực thị trấn Lịch Hội Thượng và camera của người dân trên địa bàn nêu trên mới phát hiện hình ảnh, xe bị cáo chứ không phải vì lý do bị cáo giúp đỡ cơ quan chức năng nhanh chóng làm sáng tỏ vụ án như kháng cáo của bị cáo. Do vậy các lý do kháng cáo bị cáo nêu để xin giảm nhẹ hình phạt là không có căn cứ chấp nhận. Đồng thời, xét về mức hình phạt, Hội đồng xét xử sơ thẩm xử phạt bị cáo 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 04 (bốn) năm tù về tội “Cướp giật tài sản” là tương xứng hành vi phạm tội của bị cáo, phù hợp quy định pháp luật.
Từ những cơ sở trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lý Thái N. Lời đề nghị của Kiểm sát viên tại tòa là có căn cứ nên được chấp nhận.
Án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm là 200.000 đồng theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm b khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các quyết định khác của Bán án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lý Thái N. Giữ nguyên quyết định về hình phạt của Bản án sơ thẩm số 15/2020/HS-ST, ngày 05-6-2020 của Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.
2. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm d khoản 2 Điều 171; các điểm b, s khoản 1 Điều 51 (điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được áp dụng đối với tội “Cướp giật tài sản”); khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Xử phạt bị cáo Lý Thái N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 04 (bốn) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Tổng hợp hình phạt chung bị cáo phải chấp hành là 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05-10-2019.
3. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Lý Thái N phải chịu án phí hình sự phúc thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng).
4. Các quyết định khác của quyết định Bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Sóc Trăng; (01 bản) - TAND huyện Trần Đề; (02 bản) - VKSND huyện Trần Đề; (01 bản) - CQĐT - Công an huyện Trần Đề; (01 bản) - CQTHAHS-Công an huyện Trần Đề ;(01 bản) - Chi cục THADS huyện Trần Đề; (01 bản) - Bị cáo; (01 bản) - Trại tạm giam- Công an tỉnh Sóc Trăng; (01 bản) - PKTNV&THA-TAND tỉnh Sóc Trăng; (01 bản) - CQTHAHS- Công an tỉnh Sóc Trăng; (01 bản) - Sơ Tư pháp; (01 bản);- Lưu: THS (04 bản). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký và đóng dấu) Tăng Thị Thúy Nga |