- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án hôn nhân gia đình"
- Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MINH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH QUẢNG BÌNH Bản án số: 61/2020/HNGĐ- ST Ngày: 09/7/2020 “V/v ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MINH HOÁ, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trương Quốc Hoàn
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông: Nguyễn Thanh Toàn
Ông: Trương Ngọc Nhân
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Hà – Thư ký Toà án nhân dân huyện Minh Hoá, tỉnh Quảng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Minh Hóa tham gia phiên tòa: bà Đinh Thị Hoài Thanh – Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 7 năm 2020 tại Toà án nhân dân huyện Minh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 16/2020/TLST - HNGĐ ngày 05/02/2020về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2020/QĐXX- ST ngày 05/6/2020giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:Anh C S
Trú tại: Thôn T H, xã H S, huyện M H, tỉnh Qu B. Vắng mặt.
2. Bị đơn:Chị Đ Th Ng
Trú tại: Thôn T H, xã H S, huyện M H, tỉnh Qu B. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 03/02/2020 của nguyên đơn C S trình bày giữa anh và chị Đ Th Ng đã đăng ký kết hôn năm 2017 tại Ủy ban nhân dân xã H S, huyện M H, tỉnh Qu B trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc và đã sinh được 03 người con. Sau đó hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau gây mất đoàn kết gia đình, hiện nay tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng đã sống ly thân với nhau. Vì vậy anh S làm đơn yêu cầu Toà án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Ng.
Con chung của vợ chồng: Hai vợ chồng có 03 người con chung là cháu C Th T Nh, sinh ngày 17/3/2015, cháu C Th B Ch, sinh ngày 17/01/2017 và cháu C X K, sinh ngày 24/6/2018. Hiện nay các cháu đang ở với anh S. Sau khi ly hôn nguyện vọng của anh S là được nuôi dưỡng các con và yêu cầu Tòa án giải quyết về mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Tài sản chung và khoản vay chung: Không có.
Ngày 17/6/2020, Toà án nhân dân huyện Minh Hoá đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm ly hôn đối với anh S và chị Ng. Mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng chị Ng vẫn vắng mặt nên Toà án đã hoãn phiên toà vì vắng mặt bị đơn. Tại phiên tòa hôm nay chị Ng vẫn vắng mặt không có lý do.
Tại phiên tòa Đại diện viện kiểm sát đưa ra quan điểm xét xử như sau: Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, nguyên đơn chấp hành đúng các quyền và nghĩa vụ của mình, bị đơn không chấp hành đúng các quyền và nghĩa vụ. Về quan điểm xét xử đối với vụ án: Kiểm sát viên đề nghị áp dụng Điều 28,35,39,147,227,271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81,82,83, 84, Luật Hôn nhân giá đình. Nghị quyết số 236/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí: Chấp nhận yêu cầu ly hôn giữa Anh C S và Đ Th Ng.
Về con chung: C Th T Nh, sinh năm 2015, C Th B Ch, sinh năm 2017, C X K, sinh năm 2018 giao cho anh S chăm sóc. Chị Ng cấp dưỡng mỗi tháng 1.000.000 cho mỗi cháu.
Về án phí: Anh S và chị Ng thuộc diện hộ nghèo nên miễn án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ kiện tranh chấp về hôn nhân và gia đình, căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Minh Hóa.
Sau khi thụ lý vụ án Toà án nhân dân huyện Minh Hoá đã triệu tập chị Ng nhiều lần nhưng chị Ng không đến Toà án để giải quyết vụ án. Toà án đã đến tại cơ sở và xác minh thì biết được chị Ng đã đi làm ăn ở xa, không có mặt tại địa phương. Tòa án đã niêm yết tất cả các giấy triệu tập, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Thông báo mở lại phiên tòa nhưng chị Ng vẫn không đến Tòa án để giải quyết vụ án theo yêu cầu của anh S. Ngày 18/02/2020 anh S viết đơn xin xét xử vắng mặt vì lý do điều kiện làm ăn xa. Xét thấy đơn xin xét xử vắng mặt của anh S là hợp lệ và tự nguyên nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin xét xử vắng mặt của anh S. Căn cứ Điều 227, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
Về quan hệ hôn nhân: Anh C S và chị Đ Th Ng đã đăng ký kết hôn năm 2017 tại Ủy ban nhân dân xã H S, huyện M H, tỉnh Qu B trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, không có ai ép buộc nên coi đây là cuộc hôn nhân hợp pháp nhưng do anh chị thường xuyên bất đồng quan điểm trong cuộc sống mà hai bên không khắc phục được dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, hai vợ chồng sống ly thân với nhau. Xét thấy nguyện vọng của anh S xin được ly hôn là chính đáng cần chấp nhận, áp dụng Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho anh C S được ly hôn với chị Đ Th Ng.
Về con chung: Xét thấy hiện nay con chung của hai anh chị đang ở với anh S và nguyện vọng của anh S là được nuôi con và cháu Nh, cháu Ch và cháu K, chị Ng hiện nay không có mặt tại địa phương nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình xử giao cho anh C S trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là cháu C Th T Nh sinh ngày 17/3/2015, cháu C Th B Ch sinh ngày 17/01/2017 và cháu C X K sinh ngày 24/6/2018 là hợp lý. Về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con anh S đề nghị giải quyết theo pháp luật, Hội đồng xét xử nhận thấy để đảm bảo quyền lợi cho các con và xét điều kiện thực tế tại địa phương nên xử buộc chị Đ Th Ng đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 1.000.000đ (Một triệu đồng) cho mỗi cháu, tổng số tiền cấp dưỡng nuôi con mà chị Ng phải chịu là 3.000.000đ ( Ba triệu đồng ) cho đến khi cháu C Th T Nh, C Th B Ch và cháu C X K tròn 18 tuổi.
Tài sản chung và khoản vay chung: Không có nên không xem xét.
Án phí: Anh C S và chị Đ Th Ng có hoàn cảnh khó khăn thuộc gia đình hộ nghèo có giấy xác nhận của UBND xã nên được miễn án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH;
Căn cứ vào các Điều 28, Điều 147, Điều 227, Điều 238 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh C S được ly hôn với chị Đ Th Ng.
2. Về con chung: xử giao anh C S trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là cháu C Th T Nh sinh ngày 17/3/2015, cháu C Th B Ch sinh ngày 17/01/2017 và cháu C X K sinh ngày 24/6/2018. Xử buộc chị Đ Th Ng đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 1.000.000đ (Một triệu đồng) cho mỗi cháu, tổng số tiền cấp dưỡng nuôi con mà chị Ng phải chịu là 3.000.000đ ( Ba triệu đồng ) cho đến khi cháu C Th T Nh, C Th B Ch và cháu C X K cháu tròn 18 tuổi.
Việc cấp dưỡng nuôi con được thực hiện kể từ tháng 7/2020. Không ai được ngăn cản việc đi lại chăm sóc con chung, khi cần thiết vì quyền lợi của con một trong hai bên có quyền làm đơn yêu cầu Toà án thay đổi người trực tiếp nuôi con.
3. Về án phí: Anh C S và chị Đ Th Ng được miễn án phí dân sự sơ thẩm về tranh chấp hôn nhân và gia đình và án phí dân sự sơ thẩm về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo đình kỳ.
4. Quyền yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Trường hợp bên phải thi hành án do chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán quy định tại Khoản 2 Điều 357 bộ luật Dân sự mà không có thỏa thuận lãi suất thì thực theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự được xác định mức lãi suất bằng 50% mức lãi suất quá hạn quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự để trả cho bên được thi hành án tương ứng với thời gian chậm thi hành.
5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày được niêm yết bản án tại UBND xã nơi cư trú để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Bình; - VKSND huyện Minh Hoá; - VKSND tỉnh Quảng Bình; - Chi cục THADS huyện Minh Hoá; - Nguyên đơn; - Bị đơn; - UBND xã H S; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ( đã ký ) Trương Quốc Hoàn |