vanban.org

Bản án 61/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu Tuyên án 07/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo: Hoàng Văn L và Lò Me C phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

. Tịch thu tiêu hủy 04 (Bốn) mảnh ni lon màu xanh và 02 (Hai) mảnh nilon màu trắng. . Trả lại một chiếc xe máy nhãn hiệu YMAHA loại xe Sirius màu sơn trắng, biển kiểm soát 25M1 – 1589 cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Lò Me B. Trú tại bản A Mại, xã Pa Vệ Sủ, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn Lưu và Lò Me Chớn - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo: Hoàng Văn L và Lò Me C phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Bộ luật tố tụng hình sự tuyên; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MƯỜNG TÈ
TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2019/HSST
Ngày: 7/11/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa ông: Lò Xuân Hải.

Các hội thẩm nhân dân.

- Ông: Lý Ngọc Sáng

- Bà: Lý Thị The

- Thư ký phiên tòa ông: Nguyễn Minh Tuấn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè tham gia phiên tòa ông: La Văn Xôm - Kiểm sát viên.

Trong ngày 7 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 61/2019/TL-ST-HS, ngày 4 tháng 10 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2019/QĐXXST-HS, ngày 25 tháng 10 năm 2019 đối với các bị cáo: 1. Hoàng Văn L - Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không - Sinh năm 1966, tại thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên; Nơi cư trú: Bản A Mại, xã Pa Vệ Sủ, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: 7/10; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Đảng, đoàn: Không; Con ông Hoàng Văn I (Đã chết) và con bà Lù Thị V - sinh năm 1932; Vợ: Lò Me B - sinh năm 1982; Bị cáo có 05 con, lớn nhất sinh năm 1993, nhỏ nhất sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân đã bị xử lý; Bị bắt tạm giữ từ ngày 21/6/2019 đến ngày 30/6/2019 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa. 2. Lò Me C - Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không - Sinh năm 1975, tại xã Pa Vệ Sủ, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú: Bản A Mại, xã Pa Vệ Sủ, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: Không; Dân tộc: Mảng; Tôn giáo: Không; Đảng, đoàn: Không; Con ông Lò A D (Đã chết) và con bà Tao Me X (Đã chết); Chồng: Tao A S - sinh năm 1970; Bị cáo có 05 con, lớn nhất sinh năm 1997, nhỏ nhất sinh năm 2007; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân chưa bị xử lý; Bị bắt tạm giữ từ ngày 21/6/2019 đến ngày 30/6/2019 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa. 3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà: Lò Me B - Trú tại bản A Mại, xã Pa Vệ Sủ, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu - Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 13 giờ ngày 21/6/2019, Hoàng Văn L điều khiển xe MôTô nhãn hiệu YAMAHA Sirius, biển kiểm soát 25M1 - 1589 chở C đi lên bản Pa Mu, xã Hua Bum, huện Nậm Nhùn tìm mua ma túy về sử dụng, khi đến bản Pa Mu, L gặp và mua được 01 (Một) gói Heroine và 01 (Một) gói thuốc phiện với giá 250.000 đồng của người đàn ông dân tộc Mông, sau khi L mua xong thì C cũng mua được với người đàn ông này 01 (Một) gói Heroine và 01 (Một) gói thuốc phiện với giá 100.000 đồng. Sau đó L chở C quay về nhà, khi đến bản Phiêng Kham, xã Bum Nưa thì bị tổ công tác Công an xã Bum Nưa và Công an thị trấn Mường Tè bắt quả tang, lập biên bản thu giữ toàn bộ tang vật.

Tại bản kết luận giám định số: 314/GĐ-KTHS ngày 26/6/2019 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận:

- 01 (Một) gói chất nhựa dẻo màu nâu đen có mùi hắc thu giữ của Lò Me C có khối lượng là 1,68 gam là ma túy, loại thuốc phiện.

- 01 (Một) gói chất bột khô màu trắng thu giữ của Lò Me C có khối lượng là 0,19 gam là ma túy, loại Heroine.

Tại bản kết luận giám định số: 315/GĐ-KTHS ngày 27/6/2019 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận:

- 01 (Một) gói chất nhựa dẻo màu nâu đen có mùi hắc thu giữ của Hoàng Văn L có khối lượng là 3,38 gam là ma túy, loại thuốc phiện.

- 01 (Một) gói chất bột khô màu trắng thu giữ của Hoàng Văn L khối lượng là 0,39 gam là ma túy, loại Heroine. Tại bản cáo trạng số: 61/CT-VKS-MT ngày 4 tháng 10 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè truy tố Hoàng Văn L và Lò Me C về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm i khoản 1 Điều 249/Bộ luật hình sự, tại phiên tòa hôm nay vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

- Áp dụng Điều 17; Điều 38; Điều 58; điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn L: 01(Một) năm 08 (Tám) tháng đến 02(Hai) năm 02(Hai) tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

- Áp dụng Điều 17; Điều 38; Điều 58; điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lò Me C: 01(Một) năm 04 (Bốn) tháng đến 01(Một) năm 10(Mười) tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

- Về vật chứng: Áp dụng điểm a, khoản 1, khoản 2 Điều 47/ Bộ luật hình sự, điểm c khoản 2 Điều 106/ Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 04 (Bốn) mảnh ni lon màu xanh và 02 (Hai) mảnh nilon màu trắng. Trả lại một chiếc xe máy nhãn hiệu YMAHA loại xe Sirius màu sơn trắng, biển kiểm soát 25M1 – 1589 cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Lò Me B.

- Không áp dụng hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 249/Bộ luật hình sự, là phạt tiền đối với các bị cáo, do hoàn cảnh gia đình của các bị cáo khó khăn.

- Về án Phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135/Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UNTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án. Miễn án phí HSST cho các bị cáo theo quy định của pháp luật.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa việc các bị cáo khai báo là hoàn toàn tự nguyện, không bị mớm cung, ép cung, bị cáo không khiếu nại gì về quyết định, hành vi của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, các bị cáo không có ý kiến gì tranh luận, nhất trí với bản luận tội và đề nghị của Kiểm sát viên, các bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1]. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được cơ quan tiến hành tố tụng thu thập có trong hồ sơ vụ án như vậy có đủ cơ sở để kết luận. Vào ngày 21/6/2019 Hoàng Văn L đã tàng trữ trái phép 3,38 gam ma túy loại thuốc phiện và 0,39 gam ma túy loại Heroine và Lò Me C đã tàng trữ trái phép 1,68 gam ma túy loại thuốc phiện và 0,19 gam ma túy loại Heroine. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè đã truy tố các bị cáo về "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm i khoản 1 Điều 249/ Bộ luật hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội, các bị cáo không khiếu nại gì đối với các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do vậy hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đều hợp pháp, đúng pháp luật. [2]. Hành vi của các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm vào chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với chất ma túy, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương, các bị cáo hiểu được điều đó nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng một mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra nhằm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ để giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành người lương thiện, có ích cho xã hội và gia đình. Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cần xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt đối với các bị cáo. [3]. Đề nghị của kiểm sát viên về tội danh, các tình tiết giảm nhẹ, xử lý vật chứng và án phí hình sự sơ thẩm là đúng quy định pháp luật nên cần chấp nhận. [4]. Về tình tiết tăng nặng xét bị cáo Hoàng Văn L và Lò Me C không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 /Bộ luật hình sự. [5]. Về tình tiết giảm nhẹ quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo luôn có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51/Bộ luật hình sự (Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải). [6]. Về nhân thân bị cáo Hoàng Văn L có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, từ nhỏ được bố mẹ nuôi cho học hết lớp 7/10, lớn lên không có nghề nghiệp ổn định, bản thân là người sử dụng chất ma túy, đã bị kết án, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện, để có thuốc phiện sử dụng bị cáo đã cố ý phạm tội. [7]. Về nhân thân bị cáo Lò Me C có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, từ nhỏ không được đi học, lớn lên sinh sống tại địa phương, bản thân là người sử dụng chất ma túy, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân, để có thuốc phiện sử dụng bị cáo đã phạm tội. [8]. Về hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249/ Bộ luật hình sự các bị cáo có thể bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 5 trăm triệu đồng, vì điều kiện hoàn cảnh kinh tế gia đình và bản thân bị cáo khó khăn Hội đồng xét xử miễn hình phạt tiền cho bị cáo. [9]. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, khoản 1, khoản 2 Điều 47/ Bộ luật hình sự, điểm c khoản 2 Điều 106/ Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 04 (Bốn) mảnh ni lon màu xanh và 02 (Hai) mảnh nilon màu trắng. Trả lại một chiếc xe máy nhãn hiệu YMAHA loại xe Sirius màu sơn trắng, biển kiểm soát 25M1 – 1589 cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Lò Me B. [10]. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135/Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UNTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án , xét bị cáo Lò Me C là đồng bào dân tộc thiểu số (Dân tộc Mảng), bị cáo Hoàng Văn L và gia đình thuộc hộ nghèo, không có thu nhập ổn định, các bị cáo đều sinh sống ở xã Pa Vệ Sủ huyện Mường Tè là xã biên giới có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Do vậy Hội đồng xét xử miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho các bị cáo. Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

- Tuyên bố các bị cáo: Hoàng Văn L và Lò Me C phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

- Căn cứ vào Điều 17; Điều 38; Điều 58; điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn L: 01(Một) năm 08 (Tám) tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Được khấu trừ thời hạn tạm giữ 9 (Chín) ngày. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bị bắt đi thi hành án.

- Căn cứ vào Điều 17; Điều 38; Điều 58 điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lò Me C: 01(Một) năm 04 (Bốn) tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" Được khấu trừ thời hạn tạm giữ 9 (Chín) ngày. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bị bắt đi thi hành án.

- Áp dụng điểm a, khoản 1, khoản 2 Điều 47/ Bộ luật hình sự, điểm c khoản 2 Điều 106/ Bộ luật tố tụng hình sự tuyên:

+. Tịch thu tiêu hủy 04 (Bốn) mảnh ni lon màu xanh và 02 (Hai) mảnh nilon màu trắng.

+. Trả lại một chiếc xe máy nhãn hiệu YMAHA loại xe Sirius màu sơn trắng, biển kiểm soát 25M1 – 1589 cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Lò Me B. Trú tại bản A Mại, xã Pa Vệ Sủ, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.

- Áp dụng khoản 2 Điều 135/Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UNTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án miễn án phí Hình sự sơ thẩm số tiền 200.000 đỗng cho các bị cáo.

- Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ