- Tranh chấp gì? án hình sự — "NTC - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
- Tòa quyết gì? Về x lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 61/2019/HS-ST Ngày 31-10-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Chung.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Ngọc Hải;
Ông Trần Trọng Liêm.
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Minh Trang - Thư ký Toà án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng xét x sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 63/2019/TLST-HS ngày 26 tháng 9 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét x số: 67/2019/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo:
NTC, sinh ngày 06 tháng 3 năm 1983 tại Hải Phòng. Nơi ĐKHKTT: Số 35 C116, phường A, quận B, thành phố Hải Phòng; Nơi ở: Số 23/29 C, phường D, quận B, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông E và bà F (đã chết); chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt quả tang và tạm giữ từ ngày 04-6-2019, chuyển tạm gian từ ngày 07-6-2019. Có mặt.
- Người ch ng kiến:
1. Anh NCK1 - Vắng mặt.
2. Anh NCK2 - Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do thường xuyên s dụng ma túy nên khoảng 10 giờ 00 phút ngày 04-6-2019, NTC đi xe đạp từ nhà đến khu vực đường tàu G, quận H,thành phố Hải Phòng tìm mua ma túy để s dụng cho bản thân. Khi đến nơi, NTC gặp và hỏi mua của một người phụ nữ không quen biết 400.000 đồng được 02 gói nilon trong chứa Heroine (01 gói bọc bằng nilon màu trắng, 01 gói bọc bằng nilon màu hồng). NTC cầm và đưa vào miệng ngậm rồi đạp xe đi tìm nơi để s dụng. Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, khi NTC đi đến khu vực chợ I thuộc phường J, quận B, thành phố Hải Phòng thì bị Tổ công tác Đội 3 - Đoàn đặc nhiệm phòng chống tội phạm ma túy số 1, Bộ Tư lệnh Cảnh sát Biển kết hợp cùng Công an quận Hồng Bàng kiểm tra. Do sợ hãi nên NTC nuốt 02 gói ma túy vào trong bụng. Cơ quan Công an quận Hồng Bàng đã tiến hành đưa NTC đến Bệnh viện hữu nghị Việt Tiệp Hải Phòng để nội soi gắp 02 gói ma túy trên, sau đó đưa NTC về trụ sở Công an phường Phạm Hồng Thái, quận Hồng Bàng lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ tang vật theo quy định.
Tại bản Kết luận giám định số 260/KLGĐ (Đ6) ngày 06-6-2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Mẫu chất bột g i giám định là ma túy, có khối lượng 0,5300 gam, là loại Heroine.
Tại Cơ quan điều tra, NTC đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên. Lời khai của bị cáo phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người người chứng kiến, Kết luận giám định số 260/KLGĐ (Đ6) ngày 06-6-2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Về tài sản, vật chứng:
- Đối với số ma túy còn lại sau giám định và số tiền 200.000 đồng chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận Hồng Bàng.
- Đối với chiếc xe đạp mini màu ghi, quá trình điều tra xác minh là tài sản của ông E (bố đẻ bị cáo) không liên quan đến tội phạm nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông E theo quy định của pháp luật.
Tại Cáo trạng số 49/CT-VKSHB ngày 24-9-2019, Viện kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng truy tố NTC về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên toà, NTC nhận tội, phù hợp với lời khai tại Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, Kết luận giám định số 260/KLGĐ (Đ6) ngày 06-6-2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng và nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng. Bị cáo thành khẩn khai báo, xin được giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét x :
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015; x phạt: Bị cáo NTC từ 18 tháng đến 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền.
Về x lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định. Trả lại cho NTC số tiền 200.000 đồng do không liên quan đến hành vi phạm tội.
Bị cáo NTC không có ý kiến tranh luận với quan điểm của Kiểm sát viên, phần lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Đối với người phụ nữ bán ma túy cho NTC hiện chưa xác định được địa chỉ, lai lịch cụ thể. Vì vậy, cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh x lý sau.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét x nhận định như sau:
- Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hồng Bàng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Vì vậy, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Tại phiên tòa, những người chứng kiến là anh NCK1 và anh NCK2 vắng mặt không có lý do. Xét thấy, những người chứng kiến đã được Tòa án triệu tập hợp lệ; tại phiên tòa, bị cáo, Kiểm sát viên đều đề nghị Hội đồng xét x xét x vắng mặt những người chứng kiến do trước đó những người chứng kiến đã có lời khai tại cơ quan điều tra. Do đó, Hội đồng xét x xét x vắng mặt đối với những người chứng kiến.
- Về nhận định các tình tiết của vụ án:
Về tội danh: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của những người chứng kiến, Kết luận giám định, vật chứng thu giữ được, lời khai của bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nên đủ cơ sở kết luận: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 04-6-2019 tại khu vực khu chợ I thuộc phường J, quận B, thành phố Hải Phòng, lực lượng chức năng đã tiến hành kiểm tra và đưa NTC đến Bệnh viện hữu nghị Việt Tiệp Hải Phòng để nội soi, phát hiện và gắp 02 gói nilon (01 gói bọc bằng nilon màu trắng, 01 gói bọc bằng nilon màu hồng) trong chứa chất bột màu trắng. Bị cáo khai nhận đó là ma túy, loại Heroine mua về để s dụng.
Tại bản Kết luận giám định số 260/KLGĐ (Đ6) ngày 06-6-2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Mẫu chất bột g i giám định là ma túy, có khối lượng 0,5300 gam, là loại Heroine.
Hành vi trên của bị cáo NTC đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, vi phạm Luật Phòng, chống ma túy ngày 09 tháng 12 năm 2000 và Luật s a đổi, bổ sung một số điều của Luật phòng, chống ma túy ngày 03 tháng 6 năm 2008, mà còn là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác gây mất trật tự an toàn xã hội. Đây là tệ nạn xã hội gây tâm lý bức xúc trong quần chúng nhân dân nên phải xem xét, x lý nghiêm theo quy định của pháp luật. Do đó, cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo NTC không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về hình phạt:
Về hình phạt chính: Trên cơ sở đánh giá đầy đủ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, mục đích của hình phạt, nguyên tắc x lý đối với người phạm tội. Xét thấy, bị cáo là đối tượng s dụng ma túy trong một thời gian dài, hành vi lần này bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy để s dụng cho bản thân, do vậy, cần x phạt bị cáo mức hình phạt tù thích hợp mới đảm bảo quy định của pháp luật nhằm trừng trị người phạm tội, giáo dục họ có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới và giáo dục người khác ý thức tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa các hành vi vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, căn cứ nguyên tắc x lý của pháp luật hình sự cần khoan hồng đối với người thành khẩn khai báo. Do vậy, áp dụng hình phạt như đề nghị của Viện kiểm sát là có cơ sở.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có việc làm ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
Về xử lý vật ch ng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định. Trả lại cho NTC số tiền 200.000 đồng do không liên quan đến hành vi phạm tội.
Về các vấn đề khác: Đối với người phụ nữ bán ma túy cho NTC hiện chưa xác định được địa chỉ, lai lịch cụ thể. Vì vậy, cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh x lý sau là có căn cứ.
Về án phí và quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, x phạt: NTC 18 (mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 04-6-2019.
- Về x lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định. Trả lại cho NTC số tiền 200.000 đồng do không liên quan đến hành vi phạm tội.
(Đặc điểm vật ch ng theo Biên bản giao, nhận giữa Công an quận Hồng Bàng và Chi cục Thi hành án dân sự quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng ngày 26-9-2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hồng Bàng và Biên lai thu tiền số AA/2010/7478 ngày 26-9-2019 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hồng Bàng).
- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2015/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và s dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo NTC phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 và Luật Thi hành án dân sự được s a đổi bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND TP. Hải Phòng; - Sở Tư pháp TP.Hải Phòng; - VKSND TP. Hải Phòng; - PV 27 Công an TP. Hải Phòng; - CA quận Hồng Bàng; - Cơ quan THAHS Công an quận Hồng Bàng; - VKSND quận Hồng Bàng; - Chi cục THADS quận Hồng Bàng; - UBND nơi cư trú của bị cáo; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hữu Chung |