- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Phát L - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Bùi Phát L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 61/2018/HSST Ngày 25 - 7 - 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Triệu Luật.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Kim Dung.
Bà Nguyễn Thị Lệ Hằng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoài Anh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dânQuận 10 tham gia phiên tòa:
Ông Hoàng Nam Bắc - Kiểm sát viên.
Trong ngày 25 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 41/2018/TLST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41.3/2018/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 7 năm 2018 đối với bị cáo:
Bùi Phát L (tên gọi khác: M); sinh năm:1989 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi thường trú: đường S, phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông: /(vô danh) và bà: Bùi Thị M; có vợ: Lý Ngọc Q và 02 con (lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2017); tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: tốt; bị bắt giữ ngày: 22/3/2018, tạm giữ ngày: 22/3/2018, bị tạm giam ngày: 23/3/2018.
(Bị cáo có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Bùi Thị M – Sinh năm: 1964 (có mặt). Thường trú: đường S, phường H, Quận A, TP.HCM.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 45 phút ngày 22/3/2018, tại trước nhà số 16/14 đường Trần Thiện Chánh, Phường 12, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an Quận 10 kiểm tra hành chính, thu giữ từ Bùi Phát L: 02 gói nylon chứa tinh thể không màu, 01 điện thoại di động hiệu Samsung và 01 điện thoại di động hiệu Iphone, xe môtô biển số 59C2-751.42. Sự việc được Công an Phường 12, Quận 10 lập hồ sơ ban đầu, sau đó chuyển đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 điều tra, làm rõ.
Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của L tại đường S, phường H, Quận A, thu giữ 03 gói nylon bên trong chứa tinh thể không màu, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, 01 cân điện tử, 05 bao nylon rỗng.
Tại Kết luận giám định số 629/KLGĐ-H ngày 29/3/2018 và 630/KLGĐ-H ngày 28/3/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận như sau:
- Tinh thể không màu trong 02 gói được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Bùi Phát L, các chữ ký ghi tên Nguyễn Quang Minh (điều tra viên), Lê Duy Hiệp (người chứng kiến) và hình dấu Công an Phường 12, Quận 10 gửi đến giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,8916g loại Methamphetamine.
- Tinh thể không màu trong 03 gói được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Bùi Phát L, các chữ ký ghi tên Nguyễn Văn Hiếu (điều tra viên), Phan Văn Vân (người chứng kiến) và hình dấu Công an phường Tân Hưng, Quận 7 gửi đến giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,8325g loại Methamphetamine.
Quá trình điều tra, Bùi Phát L khai nhận như sau: Khoảng 10 giờ 45 phút ngày 22/3/2018, L đang ở nhà thì có đối tượng tên Q (không rõ lai lịch, địa chỉ) gọi điện (số thuê bao 0939540395) hỏi mua 600.000 đồng ma túy tổng hợp. L đồng ý và hẹn địa điểm giao ma túy tại đường Trần Thiện Chánh, Phường 12, Quận 10. Sau đó, L điều khiển xe môtô biển số 59C2-751.42 đi giao ma túy. Khi L đến trước nhà số 16/14 đường Trần Thiện Chánh, Phường 12, Quận 10 thì bị Công an Quận 10 kiểm tra và bắt giữ như trên. Số ma túy này, L mua của đối tượng tên H (không rõ lai lịch, địa chỉ) vào lúc 13 giờ ngày 20/3/2018 tại khu vực đường Âu Dương Lân, Quận 8 với giá 1.800.000 đồng. Đây là lần đầu tiên L bán ma túy cho Q thì bị bắt.
Riêng các đối tượng tên H, Q (không rõ lai lịch, địa chỉ), Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 tiếp tục truy xét, khi nào bắt được xử lý sau.
Đối với 01 xe môtô biển số 59C2-751.42, qua xác minh người đứng tên giấy đăng ký xe là bị cáo Bùi Phát L, về phía bị cáo L, bà Bùi Thị M và bà Bùi Thị D đều khai nhận như sau: chiếc xe trên là do bà Bùi Thị M trực tiếp giao dịch, bỏ số tiền 62.000.000 đồng ra mua xe của bà Bùi Thị D, sau đó bà M nhờ L đứng tên giùm chiếc xe trên; ngày 22/3/2018, L mượn chiếc xe trên và dùng làm phương tiện mua bán ma túy, bà M không biết; hiện Công an Quận 10 đã tạm giữ lại.
Tại bản cáo trạng số 38/CT-VKS ngày 31 tháng 5 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành Phố Hồ Chí Minh đã truy tố: Bùi Phát L về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa hôm nay:
- Bị cáo Bùi Phát L đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như lời khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vẫn giữ nguyên lời khai trình và yêu cầu của mình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh công bố bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo đúng theo nội dung bản cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, sau khi nêu lên những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo (thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải); đã đề nghị áp dụng khoản 1, 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Bùi Phát L: từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, phạt bổ sung bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác: đề nghị Hội đồng xét xử xử lý các vật chứng theo đúng quy định của pháp luật.
- Ý kiến của bị cáo: không có gì tranh luận.
- Lời nói sau cùng của bị cáo: rất hối hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên thu thập; do bị can, bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Bùi Phát L và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, cung cấp. Do đó, những chứng cứ, tài liệu trong vụ án đều hợp pháp.
Về hành vi, quyết định tố tụng của của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung bị can mà bị cáo đã trình bày nội dung lời khai là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Nhận định hành vi và điều khoản xét xử:
Tại Cơ quan điều tra, cũng như trước phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi của mình, qua lời khai nhận tội của bị cáo, đối chiếu với nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, bản kết luận giám định, vật chứng cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án là phù hợp, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định: bị cáo Bùi Phát L phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Ma túy là mối hiểm họa cho gia đình và xã hội, nó đã lây lan và phát triển một cách nghiêm trọng, làm suy đồi và băng hoại nhân cách con người, là một trong những nguyên nhân dẫn đến các tội phạm hình sự khác; trong khi chính quyền nhân dân các cấp đang ra sức thực hiện mục tiêu 3 giảm: “Giảm ma túy, giảm mại dâm, giảm tội phạm”; nhưng bị cáo đã đi ngược lại mục tiêu chung trên, cụ thể: bị cáo đã cất giữ trái phép: 0,8916g + 0,8325g = 1,7241g loại Methamphetamine, nhằm mục đích để bán lại cho người khác, chiếu theo danh mục các chất ma túy và tiền chất ban hành theo Nghị định số: 82/2013/NĐ - CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ thì đó là chất ma túy ở thể rắn, nên bị cáo bị truy tố và xét xử theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Việc áp dụng hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Do vậy hành vi phạm tội của bị cáo cần phải bị xử phạt nghiêm minh bằng luật hình với mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cụ thể cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định để cải tạo giáo dục bị cáo thành người tốt cho xã hội, đồng thời cũng để răn đe, giáo dục đối với những người thực hiện hành vi tương tự, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tệ nạn tại địa phương; ngoài ra áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) phạt bổ sung bị cáo một số tiền để sung quỹ Nhà nước.
Về tình tiết tăng nặng: không có.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tuy nhiên xét thấy bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; vậy Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác:
Đối với: 01 gói vật chứng đã được niêm phong (bên trong có chứa tinh thể không màu, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên và cán bộ điều tra), 01 gói vật chứng đã được niêm phong (bên trong có chứa tinh thể không màu, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên và cán bộ điều tra), là vật lưu hành bất hợp pháp; vậy căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; tịch thu, tiêu hủy.
Đối với: 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung (số Imel: 356902/08/199754/3, số thuê bao 0936810147), 01 cân điện tử; là phương tiện dùng vào việc mua bán trái phép chất ma túy; vậy căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.
Đối với 01 chiếc xe môtô biển số 59C2-751.42 (loại xe: Hai bánh, nhãn hiệu: HONDA, số loại: SH MODE, màu sơn: Đỏ - đen, dung tích xi lanh: 124.9, số khung: RLHJF5131GZ238986, số máy: JF51E-0867173); qua xác minh người đứng tên giấy đăng ký xe là bị cáo Bùi Phát L, về phía bị cáo L, bà M và và bà Bùi Thị D đều khai nhận như sau: chiếc xe trên là do bà Bùi Thị M trực tiếp giao dịch, bỏ số tiền 62.000.000 đồng ra mua xe của bà Bùi Thị D, sau đó bà M nhờ L đứng tên giùm chiếc xe trên; ngày 22/3/2018, L mượn chiếc xe trên và dùng làm phương tiện mua bán ma túy, bà M không biết; do vậy căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), trả lại chiếc xe trên cho bà Bùi Thị M.
Đối với: 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy tổng hợp (01 bình gas, 01 quẹt gas, 01 bình thủy tinh, 01 nỏ thủy tinh), không đáng giá trị; vậy căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; tịch thu và tiêu hủy.
Về án phí sơ thẩm: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: bị cáo Bùi Phát L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ vào khoản 1, 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Bùi Phát L;
Xử phạt bị cáo Bùi Phát L 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/3/2018.
Phạt bổ sung bị cáo L 5.000.000 (Năm triệu) đồng sung quỹ Nhà nước.
- Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; tịch thu, tiêu hủy: 01 gói vật chứng đã được niêm phong (bên trong có chứa tinh thể không màu, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên và cán bộ điều tra), 01 gói vật chứng đã được niêm phong (bên trong có chứa tinh thể không màu, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên và cán bộ điều tra).
- Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; tịch thu và tiêu hủy: 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy tổng hợp (01 bình gas, 01 quẹt gas, 01 bình thủy tinh, 01 nỏ thủy tinh).
- Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung (số Imel: 356902/08/199754/3, số thuê bao 0936810147), 01 cân điện tử.
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), trả lại bà Bùi Thị M: 01 chiếc xe môtô biển số 59C2-751.42 (loại xe: Hai bánh, nhãn hiệu: HONDA, số loại: SH MODE, màu sơn: Đỏ - đen, dung tích xi lanh: 124.9, số khung: RLHJF5131GZ238986, số máy: JF51E-0867173).
(Tình trạng vật chứng, tài sản theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 31/5/2018 giữa Công an Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh).
- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc:
- Bị cáo L chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thị hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình.
Thời hạn kháng cáo là 15 ngày; đối với bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa thì tính từ ngày tuyên án./. Nôi nhaän:
| - Sôû Tö phaùp TP.HCM; - Cục Hải quan TP.HCM; - TAND TP.HCM; - VKSND Q.10; - Công an Q.10, PC.53; - Chi cục Thuế Q.10; - Chi cục THADS Q.10; - Người tham gia tố tụng; - Lưu VP, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Triệu Luật |