vanban.org

Bản án 61/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên Tuyên án 28/09/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Sùng A V phạm tội: Mua bán trái phép chất ma tuý.

Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b, c khoản 1 Điều 47/BLHS và khoản 1, điểm a, b khoản 2 Điều 106/BLTTHS: Tuyên tịch thu tiêu huỷ 0,69 gam Heroine và tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 10/9/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự huy… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Sùng A V - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Sùng A V phạm tội: Mua bán trái phép chất ma tuý.
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 15 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NP
TỈNH ĐIỆN BIÊN
______________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2018/HS-ST
Ngày 28-9-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NP, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Vàng Thị Dua.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Vũ và ông Thùng Văn Liên.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Sao - Thư ký Toà án nhân dân huyện NP, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện NP, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Kiên - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện NP, tỉnh Điện Biên; Tòa án nhân dân huyện NP mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 63/2018/TLST-HS ngày 10/9/2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2018/QĐXXST-HS ngày 17/9/2018 đối với bị cáo.

Sùng A V; Sinh năm: 1976 tại huyện C, tỉnh Yên Bái; Nơi cư trú: Bản NC 2, xã S, huyện NP, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: Không; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Sùng Gà C (đã chết) và con bà: Giàng Thị D (đã chết); Bị cáo có vợ là Lý Thị M sinh năm 1972 và có 04 người con; Tiền sự, tiền án: Không;

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/6/2018 đến nay tại Công an huyện NP. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Lò Văn T sinh năm 1997

Địa chỉ: Bản P 1 xã S, huyện NP (Vắng mặt có lý do – Có đơn xin xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 00 phút, ngày 31/5/2018, V đi bộ một mình từ nhà ở bản NC 2 xã S, huyện NP ra khu vực bản P 1 xã S với mục đích là đi tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân và bán kiếm lời. Khi đi V mang theo số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), đến khu vực khe suối thuộc bản P 1, xã S, huyện NP, V có gặp một người phụ nữ dân tộc Thái khoảng 40 tuổi, V không biết tên, địa chỉ của người đó. Khi gặp người phụ nữ đó hỏi V là muốn mua Heroine không, V trả lời là đúng. Người phụ nữ hỏi lại V muốn mua bao nhiêu tiền, V trả lời mua 300.000đ, nói xong V lấy tiền đưa cho người phụ nữ. Người phụ nữ cầm lấy tiền rồi bỏ đi đâu khoảng 02 phút sau quay lại đưa cho V 01 gói Heroine được gói bằng ni lông màu trắng. V cầm lấy gói Heroine rồi đi về nhà, còn người phụ nữ đó đi đâu V không rõ. Khi về đến nhà V lấy gói Heroine ra dùng móng tay cấu một ít để sử dụng bằng hình thức hít. Đến sáng ngày 01/6/2018 V tiếp tục lấy gói heroine ra cấu một ít sử dụng. Khi sử dụng xong, V lấy dao lam cắt cục heroine ra thành 12 cục nhỏ và dùng mảnh ni lông nhỏ gói lại thành 12 gói để dùng dần và bán lẻ kiếm lời. Khoảng 12 giờ cùng ngày 01/6/2018 V bán 04 gói Heroine cho người đàn ông tên Thắng, V không biết họ gì nhà ở đâu được 200.000đ. Đến 13 giờ cùng ngày 01/6/2018 có 02 người đàn ông tên là Trực và May đến hỏi mua Heroine của V. Người đàn ông tên Trực có đưa cho V số tiền 100.000đ, V cầm lấy tiền của Trực rồi cất tiền vào túi quần bên phải V đang mặc. V chưa kịp đưa Heroine cho Trực thì bị tổ công tác công an xã S, Đồn biên phòng Si Pha Phìn và Công an huyện NP vào nhà bắt quả tang. Khi thấy tổ công tác người đàn ông tên May đã bỏ chạy vào rừng, V đã ném số Heroine vào bếp lửa. Tổ công tác đã phát hiện kịp thời và thu giữ 08 gói Heroine của V trong tro bếp. Sùng A V khai nhận 08 gói Heroine tổ công tác thu giữ trong tro bếp là của V, ngoài ra trước đó V đã bán 04 gói Heroine cho người đàn ông tên Thắng được 200.000đ và cầm số tiền 100.000đ của Trực đưa cho để mua Heroine nhưng V chưa kịp đưa Heroine cho Trực.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định ngày 04/6/2018 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện NP xác định: Vật chứng thu giữ của Sùng A V có khối lượng là 0,79 gam, trích mẫu gửi giám định là 0,1 gam.

Bản kết luận giám định số: 540/GĐ-PC54, ngày 13/6/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Mẫu chất bột màu trắng đục trích ra từ vật chứng thu giữ của Sùng A V gửi giám định là chất ma túy: Loại Heroine.

Bị cáo đã được thông báo kết luận giám định nhất trí không có ý kiến hay khiếu nại gì.

2Cáo trạng số: 39/CT-VKSNP ngày 10/9/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện NP, tỉnh Điện Biên truy tố bị can Sùng A V về tội: Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Sùng A V đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện NP truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lò Văn Trực đã được Tòa án triệu tập tuy nhiên vắng mặt tại phiên tòa. Lời khai tại cơ quan điều tra Trực thừa nhận có đưa 100.000đ cho bị cáo Sùng A V để mua heroine của V vào ngày 01/6/2018.

Trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Sùng A V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự:

Xử phạt Sùng A V mức án từ 28 tháng đến 34 tháng tù.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm b, c khoản 1 Điều 47/BLHS và khoản 1, điểm a, b khoản 2 Điều 106/BLTTHS:

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì công văn niêm phong bên trong có vỏ phong bì cũ, giấy gói cũ.

Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền: 300.000đ của bị cáo V.

Không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Bị cáo Sùng A V nhất trí, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện NP, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện NP, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Sùng A V đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; Biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với các tài liệu và chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở để khẳng định: Hồi 14 giờ 00 phút ngày 01/6/2018 Sùng A V đã bị tổ công tác Công an huyện NP và Đồn biên phòng Si Pha Phìn bắt quả tang khi đang có hành vi bán ma túy cho đối tượng nghiện ma túy tại nhà của bị cáo V, thu giữ 08 gói Heroine có khối lượng 0,79 gam và số tiền 300.000đ do V bán ma túy mà có. Vì vậy HĐXX kết luận bị cáo Sùng A V phạm tội: Mua bán trái phép chất ma tuý theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát huyện NP đã truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo Sùng A V là nghiêm trọng và gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý về các chất ma tuý của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự địa phương. Bị cáo có đầy đủ khả năng nhận thức hành vi bán trái phép chất ma túy để kiếm lời là phạm tội nhưng vì hám lợi bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Hành vi của bị cáo Sùng A V đã và đang đi ngược lại với chủ trương của Đảng, Nhà nước ta trong việc cấm trồng, sử dụng, mua bán, tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma tuý. Hành vi phạm tội của bị cáo đã tiếp tay cho những kẻ buôn bán trái phép các chất ma túy. Là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Vì vậy cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để trừng trị, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Về nhân thân bị cáo: Sùng A V xuất thân trong gia đình lao động nhưng do không chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân và nhận thức pháp luật hạn chế nên bị cáo đã sớm đi vào con đường nghiện ma túy và có hành vi phạm tội trong vụ án này.

Về tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về nguồn gốc số Heroine thu giữ, Sùng A V khai mua của một người phụ nữ dân tộc Thái khoảng 40 tuổi, không rõ địa chỉ nên không có căn cứ để xem xét, xử lý.

Đối với người đàn ông tên Thắng, theo lời khai của bị cáo vào ngày 01/6/2018 V đã bán 04 gói Heroine cho Thắng với giá 200.000 đồng, do không rõ tên tuổi, địa chỉ nên không đủ căn cứ để xác minh, xử lý theo quy định.

Đối với người đàn ông tên May đến nhà V mua ma túy vào ngày 01/6/2018; Khi thấy tổ công tác vào nhà V, May đã bỏ chạy vào rừng. V và Trực chỉ biết tên là May, không biết rõ năm sinh và nơi cư trú của May nên không đủ căn cứ để điều tra, xác minh.

Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lò Văn Trực đến nhà V mua ma túy vào ngày 01/6/2018, Trực đưa cho V số tiền 100.000 đồng, tuy nhiên V chưa kịp đưa ma túy cho Trực nên không đủ căn cứ để xử lý đối với Lò Văn Trực.

Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào khoản 5 Điều 251/BLHS và biên bản xác minh tài sản của Cơ quan điều tra, xét thấy bị cáo không có điều kiện thi hành hình phạt bổ sung nên HĐXX miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo V.

Về vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm b, c khoản 1 Điều 47/BLHS và khoản 1, điểm a, b khoản 2 Điều 106/BLTTHS; Tuyên tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma túy và tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền do bán ma túy mà có.

Về án phí: Căn cứ Điều 136/BLTTHS và điểm đ khoản 1 Điều 12 và khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khóa 14; Xét thấy bị cáo Sùng A V là đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của Chính phủ nên được miễn án phí Hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Sùng A V phạm tội: Mua bán trái phép chất ma tuý. Áp dụng Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 251của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Sùng A V 28 (Hai mươi tám) tháng tù, thời hạn tù kể từ ngày bị bắt tạm giữ: 01/6/2018.

2. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b, c khoản 1 Điều 47/BLHS và khoản 1, điểm a, b khoản 2 Điều 106/BLTTHS: Tuyên tịch thu tiêu huỷ 0,69 gam Heroine và tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 10/9/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện NP.

3. Án phí Hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 /BLTTHS và điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khóa 14; Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo Sùng A V.

4. Quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo Sùng A V biết được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ