- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thanh H phạm tội mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 61/2018/HSST Ngày 27 - 7 - 2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Ông Ngô Anh Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Nguyễn Thị Ngọc
- Ông Cao Đình Nhân
- Thư ký phiên tòa: Bà Lường Thị Phương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Tuyết Sương – Kiểm sát viên.
Ngày 27/7/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 63/2018/HSST ngày 12/6/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2018/QĐXXST-HS ngày 06/7/2018 đối với bị cáo:
Trần Thanh H, sinh năm 1974 tại tỉnh Thanh Hóa; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số nhà 11/7, thôn P, xã H, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; Chỗ ở: Số nhà 11/7, thôn P, xã H, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Hồng B, sinh năm 1949, con bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1953; Vợ: Đinh Thị Y, sinh năm 1977; Con: 03 con, lớn nhất sinh năm 1997, nhỏ nhất sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/11/2017 đến nay. (Bị cáo bị tạm giam có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 13 giờ 00 phút, ngày 21/11/2017 bị cáo Trần Thanh H đến khu vực gần bến xe liên tỉnh Lâm Đồng thuộc phường 3, thành phố Đ L gặp một người phụ nữ tên D (không rõ nhân thân lai lịch) mua 01 gói ma túy với giá 3.000.000 đồng. Sau đó, bị cáo H mang số ma túy mua được đem về nhà của bị cáo ở số 11/7, thôn P, xã H, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng cất giấu để sử dụng cho bản thân. Đến khoảng 20 giờ 00 phút cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lâm Đồng phối hợp với Công an huyện Đ tiến hành kiểm tra hành chính nhà của bị cáo H . Quá trình kiểm tra phát hiện tại phòng ngủ thứ 02 từ cửa chính đi vào, trong phòng ngủ có 01 giá treo đồ, bên trên giá treo đồ có 01 chiếc áo khoác màu đỏ, trong túi áo khoác bên phải có 01 gói giấy bạc chứa chất dạng cục bột màu trắng nghi là ma túy. Đến khoảng 20 giờ 30 phút, Hà Trọng D đến nhà bị cáo H để liên hệ mua ma túy nhưng chưa kịp mua thì Công an tỉnh Lâm Đồng tiến hành lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang và niêm phong số ma túy trên gửi đi giám định.
Ngày 22/11/2017 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 211/CQCSĐT, đồng thời gửi vật chứng thu giữ đến Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng để giám định theo yêu cầu điều tra vụ án. Tại Bản kết luận giám định số 236/GĐ-PC54 ngày 23/11/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng xác định: Mẫu cục bột đựng trong 01 gói giấy bạc được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 2,6141g loại Heroine. Heroine là chất ma túy nằm trong Danh mục I, Số thứ tự 20, Nghị định 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ.
Về vật chứng trong vụ án gồm: 02 phong bì niêm phong số 236/PC54-2018, 01 áo khoác vải màu đỏ đã cũ, 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu bạc đã qua sử dụng, 01 cuốn sổ thông hành mang tên Trần Thanh H số 0134422, 01 chứng minh nhân dân mang tên Trần Thanh H số 251228489, 01 giấy phép lái xe mang tên Trần Thanh H số AS 640411. Số vật chứng này, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng chờ xử lý (theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 23/01/2018).
Tại Cáo trạng số 24/CT-VKS ngày 11/6/2018 Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ đã truy tố bị cáo Trần Thanh H về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ thực hành quyền công tố giữ nguyên bản cáo trạng đã truy tố.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Vào khoảng 13 giờ 00 phút, ngày 21/11/2017 bị cáo Trần Thanh H đến khu vực gần bến xe liên tỉnh Lâm Đồng thuộc phường 3, thành phố Đ L gặp một người phụ nữ tên Duyên (không rõ nhân thân lai lịch) mua 01 gói ma túy với giá 3.000.000 đồng. Sau đó, bị cáo H mang số ma túy mua được đem về nhà của bị cáo ở số 11/7, thôn Phi Nôm, xã Hiệp Thạnh, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng cất giấu để sử dụng cho bản thân. Đến khoảng 20 giờ 00 phút cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lâm Đồng phối hợp với Công an huyện Đ tiến hành kiểm tra hành chính nhà của bị cáo H . Quá trình kiểm tra phát hiện tại phòng ngủ thứ 02 từ cửa chính đi vào, trong phòng ngủ có 01 giá treo đồ, bên trên giá treo đồ có 01 chiếc áo khoác màu đỏ, trong túi áo khoác bên phải có 01 gói giấy bạc chứa chất dạng cục bột màu trắng nghi là ma túy. Đến khoảng 20 giờ 30 phút, Hà Trọng D đến nhà bị cáo H để liên hệ mua ma túy nhưng chưa kịp mua thì Công an tỉnh Lâm Đồng tiến hành lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang và niêm phong số ma túy trên gửi đi giám định.
Khối lượng ma túy mà bị cáo H tàng trữ trái phép chất ma túy , có kết luận giám định: Mẫu cục bột đựng trong 01 gói giấy bạc được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 2,6141g loại Heroine.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không khiếu nại kết luận giám định, lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, như vậy đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần Thanh H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo H là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chính sách độc quyền và thống nhất quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy, mà còn ảnh hưởng đến nhiều mặt của đời sống cộng đồng, là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn và tội phạm khác trong xã hội. Bị cáo là người nghiện ma túy nên bị cáo nhận thức được rõ hơn chất ma túy gây ra tác hại rất nghiêm trọng đối với sức khỏe, tính mạng của con người. Bị cáo cũng nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý trực tiếp thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích có ma túy để sử dụng, thỏa mãn cơn nghiện của bản thân.
Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo tự thú, tự khai nhận hành vi phạm tội ngày 18/11/2017 là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, do đó khi lượng hình có xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ giữ quyền công tố đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 03 năm tù là có căn cứ, đúng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, cũng như tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
Từ những phân tích nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy phải áp dụng một mức hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo, đồng thời để bị cáo cai nghiện, từ bỏ ma túy trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội.
Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Viện kiểm sát trong quá trình điều tra, truy tố đối với vụ án đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tuy nhiên việc xác định ngày tạm giữ/tạm giam bị cáo không đúng vì: Bị cáo bị bắt quả tang tàng trữ trái phép chất ma túy vào lúc 20 giờ 30 phút ngày 21/11/2017 nhưng quyết định tạm giữ số 120/CSĐT (PC47) ngày 22/11/2017 của cơ quan cảnh sát điều tra công anh tỉnh Lâm Đồng xác định tạm giữ bị cáo 03 ngày kể từ 03 giờ 00 ngày 22/11/2017. Việc xác định thời điểm bị cáo bị tạm giữ/tạm giam kể từ ngày 22/11/2017 là trễ 01 ngày so với ngày bị cáo bị bắt là thiệt hại 01 ngày tạm giữ đối với bị cáo. Do vậy Hội đồng xét xử xác định ngày tạm giữ/tạm giam bị cáo là ngày bắt bị cáo là ngày 21/11/2017.
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đối với đối tượng tên D, do chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra tách ra, tiếp tục xác minh để xử lý sau là phù hợp.
Đối với Hà Trọng D là đối tượng nghiện ma túy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lâm Đồng đã ra quyết định xử phạt hành chính về hành vi sử dụng ma túy.
Về xử lý vật chứng:
- Số ma túy còn lại sau khi giám định đựng trong 02 phong bì niêm phong số 236/PC54-2018; 01 áo khoác vải màu đỏ đã cũ là vật chứng của vụ án, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu bạc đã qua sử dụng là phương tiện bị cáo liên lạc để mua ma túy nên tịch thu sung công quỹ nhà nước.
- 01 cuốn sổ thông hành mang tên Trần Thanh H số 0134422, 01 chứng minh nhân dân mang tên Trần Thanh H số 251228489, 01 giấy phép lái xe mang tên Trần Thanh H số AS 640411 là tài sản cá nhân không liên quan tới việc phạm tội của bị cáo nên tuyên trả lại cho bị cáo các tài sản trên.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Tuyên bố: Bị cáo Trần Thanh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt: Bị cáo Trần Thanh H 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 21/11/2017.
[2] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau khi giám định đựng trong 02 phong bì niêm phong số 236/PC54-2018; 01 áo khoác vải màu đỏ đã cũ không còn giá trị sử dụng.
- Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu bạc đã qua sử dụng.
- Hoàn trả cho cáo Trần Thanh H 01 cuốn sổ thông hành mang tên Trần Thanh H số 0134422; 01 chứng minh nhân dân mang tên Trần Thanh H số 251228489; 01 giấy phép lái xe mang tên Trần Thanh H số AS 640411 (theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 23/01/2018).
[3] Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 buộc bị cáo Trần Thanh H phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND huyện Đ; - CAND huyện Đ; - Chi cục THADS huyện Đ; - TAND tỉnh Lâm Đồng; - THA HS; - Lưu VP, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Anh Tuấn |