- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Hoàng Văn N phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý".
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật hình S; Điều 51 Bộ luật hình S; Bộ luật tố tụng hình S
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 61/2018/HS-ST Ngày: 26/11/2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Mỹ Hằng.
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Anh – Ông Lò Quyết Thắng
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Thanh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Than Uyên tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên tham gia phiên toà: Ông Tòng Văn Thức - Kiểm sát viên
Ngày 26/11/2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình S sơ thẩm thụ lý số: 63/2018/HSST, ngày 09/11/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2018/QĐXXST-HS ngày 16/11/2018 đối với bị cáo:
Hoàng Văn N - Sinh năm 1974;
Nơi ĐKHKTT: Bản ND, xã MK, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hóa: 3/12; Dân tộc: Thái; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hoàng Văn Gi – Sinh năm: 1923 và bà: Lò Thị A (đã chết); Bị cáo có vợ: Điêu Thị Nh – Sinh năm: 1973 và 04 con; Tiền S: Không.
Tiền án có 03 tiền án chưa được xóa án tích, cụ thể:
- Bản án số: 30/2005/HSST ngày 27/01/2005 của Tòa án nhân dân huyện Than Uyên xử phạt 30 tháng tù về tội: “Tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy”.
- Bản án số: 04/2009/HSST ngày 21/10/2009 của Tòa án nhân dân huyện Than Uyên xử phạt 32 tháng tù về tội: “Tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy”.
- Bản án số: 50/2013/HSST ngày 13/3/2013 của Tòa án nhân dân huyện Than Uyên xử phạt 07 năm tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày17/6/2018, tạm giam từ ngày 20/6/2018 hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Than Uyên (Có mặt).
- Người làm chứng:
1/ Hoàng Văn S - Sinh năm: 1995
Địa chỉ: Bản PQ, xã MC, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu Châu (vắng mặt).
2/ Tòng Văn T - Sinh năm: 1984
Trú tại: Bản NK, xã MK, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu (vắng mặt).
3/ Lò Văn S - Sinh năm: 1973
Địa chỉ: Bản Mé, xã MC, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu (vắng mặt).
- Người chứng kiến:
1/ Nguyễn Thị Xuyên – Sinh năm: 1976
Địa chỉ: Khu Ngã ba, xã MK, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu (vắng mặt).
2/ Lò Văn Thăm – Sinh năm: 1988
Địa chỉ: Bản ND, xã MK, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 10 giờ 30 phút ngày 17/6/2018, tại Ngã Ba, xã MK, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu, Công an huyện Than Uyên lập biên bản vi phạm hành chính đối với Hoàng Văn S, sinh năm: 1995, trú tại: Bản PQ, xã MC, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, vật chứng thu giữ là 01 gói Heroine (được gói bằng mảnh giấy bạc màu vàng), có khối lượng 0,04 gam. Tại Cơ quan điều tra, S khai về nguồn gốc gói Heroine là do S cùng Lò Văn S, SN: 1973, trú tại: Bản Mé, xã MC, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu) mua của Hoàng Văn N (SN: 1974, trú tại Bản ND, xã MK, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu) với giá 200.000đồng mục đích để sử dụng. Cơ quan điều tra đã mời Lò Văn S ghi lời khai, lời khai của S phù hợp với lời khai của Hoàng Văn S cùng các tài liệu đã thu thập được.
Hồi 10 giờ 45 phút cùng ngày, tại Bản ND, xã MK, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu, Công an huyện Than Uyên tiếp tục phát hiện lập biên bản vi phạm hành chính đối với Tòng Văn T, sinh năm: 1984, trú tại: Bản NK, xã MK, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, vật chứng thu giữ là 01 gói Heroine (được gói bằng mảnh nilon màu hồng), có khối lượng 0,04 gam. Tại Cơ quan điều tra, T khai về nguồn gốc gói Heroine là T mua của Hoàng Văn N (SN: 1974, trú tại Bản ND, xã MK, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu) với giá 100.000 đồng mục đích để sử dụng.
Căn cứ lời khai của S, S, T, Cơ quan điều tra đã ra Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Hoàng Văn N về hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Quá trình khám xét khẩn cấp, thu giữ tại giường ngủ của Hoàng Văn N 01 gói Heroine có khối lượng 1,84 gam cùng số tiền 270.000 đồng.
Tại Cơ quan điều tra Hoàng Văn N, Hoàng Văn S, Lò Văn S, Tòng Văn T khai nhận: Khoảng 08 giờ ngày 16/6/2018, tại cây xăng thuộc Ngã Ba, xã MK, huyện Than Uyên, Hoàng Văn N gặp một người đàn ông dân tộc Mông giới thiệu tên là “Sình”, nhà ở huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái. Qua nói chuyện N hỏi mua Heroine, Sình đồng ý bán. Sau đó, Sình cùng N di đến khu vực giáp ranh giữa xã MK và xã Hồ Bốn, Mù Cang Chải để trao đổi mua bán Heroine. Tại đây, N đưa cho Sình số tiền 1.200.000 đồng, Sình cầm tiền rồi lấy trong túi quần ra 01 gói Heroine được gói bằng mảnh nilon màu xanh bán cho Hoàng Văn N, lúc trao đổi, mua bán chỉ có N và người đàn ông tên Sình biết với nhau. Mua được Heroine, N cất giấu trong người mang giấu tại buồng ngủ không cho ai biết, mục đích để bán kiếm lời. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, khi N đang ở nhà thì có Tòng Văn T đến hỏi mua Heroine, T đưa cho N số tiền 100.000 đồng, N cầm tiền rồi đi vào buồng ngủ cấu một ít Heroine gói lại thành một gói bán cho T. Mua được Heroine, T mang đi sử dụng hết.
Đến khoảng 09 giờ ngày 17/6/2018, Lò Văn S đang đi tìm mua Heroine để sử dụng thì gặp Hoàng Văn S trước cửa nhà Hoàng Văn N. Qua nói chuyện, S và S rủ nhau đi vào trong nhà N hỏi mua Heroine, N đồng ý bán Heroine cho S và S. Tại nơi ở, Hoàng Văn N đã cùng lúc nhận từ Lò Văn S số tiền 100.000 đồng (gồm 02 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng), nhận từ Hoàng Văn S số tiền 100.000 đồng, N nhận tổng số tiền 200.000 đồng từ S và S rồi đi vào buồng ngủ lấy gói Heroine ra cấu một ít tương ứng với số tiền 200.000 đồng gói thành 01 gói rồi đem bán cho S và S bảo tự chia nhau. Mua được Heroine, S và S chia nhau mỗi người một nửa, S mang đi sử dụng hết, còn S gói số Heroine vào mảnh giấy bạc màu vàng rồi cất giấu trong người, mục đích mang về sử dụng thì bị Công an huyện Than Uyên lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ 0,04 gam Heroine. Sau khi bán Heroine cho S và S, N đi chợ quay về nhà thì có Tòng Văn T đến hỏi mua Heroine, N tiếp tục bán cho T 01 gói Heroine phía ngoài gói mảnh nilon màu hồng với giá 100.000 đồng. Mua được Heroine, Tòng Văn T mang đi sử dụng thì bị Công an huyện Than Uyên lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ 0,04 gam Heroine.
Ny sau đó, Cơ quan điều tra đã tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Hoàng Văn N, thu giữ 01 gói Heroine có khối lượng 1,84 gam và số tiền 270.000 đồng do N bán trái phép Heroine mà có.
Ngày 17/6/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Than Uyên đã tiến hành mở niêm phong và lấy mẫu gửi giám định vật chứng thu giữ của Hoàng Văn S, Tòng Văn T và Hoàng Văn N. Tại bản kết luận giám định số: 297 ngày 25/6/2018 của Phòng kỹ thuật hình S Công an tỉnh Lai Châu kết luận: “Số chất bột khô, màu trắng, vón cục thu giữ của Hoàng Văn S và Tòng Văn T gửi giám định là Heroine , có khối lượng 0,04gam và 0,04 gam (vật chứng đã gửi giám định hết và không hoàn lại mẫu vật”. “Số chất bột khô, màu trắng, vón cục thu giữ của Hoàng Văn N gửi giám định là Heroine, có khối lượng 1,84gam.
Đối với số tiền thu giữ của Hoàng Văn N: Tại bản kết luận giám định số: 295 ngày 21/6/2018 của Phòng kỹ thuật hình S Công an tỉnh Lai Châu kết luận: Số tiền 270.000đồng thu giữ của Hoàng Văn N gửi đến giám định đều là tiền do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành (tiền thật).
Vật chứng còn lại của vụ án gồm: 1,80 gam Heroine và số tiền 270.000đồng thu giữ của Hoàng Văn N hiện đang được lưu giữ tại kho vật chứng Công an huyện Than Uyên.
Bản cáo trạng số: 41/CT-VKS ngày 08/11/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên đã truy tố bị cáo Hoàng Văn N về tội:“Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại các điểm b, c, q khoản 2 Điều 251 - Bộ luật hình S 2015.
Trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Hoàng Văn N đã thành khẩn khai báo, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên đã truy tố.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát huyện Than Uyên thực hành quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố theo cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn N phạm tội:“Mua bán trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt: Căn cứ các điểm b, c, q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38- Bộ luật hình S năm 2015. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn N từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm tù.
Áp dụng Điều 56 –BLHS tổng hợp hình phạt 07 năm tù tại bản án số 50/2013/HSST ngày 13/3/2013 của Tòa án nhân dân huyện Than Uyên. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án từ 15 năm 06 tháng đến 16 năm tù.
Khấu trừ thời gian tạm giữ cho bị cáo 06 (sáu) ngày tại bản án số 50/2013/HSST.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ (17/6/2018).
Đề nghị không áp dụng các hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 251 - Bộ luật hình S 2015 đối với bị cáo và xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không bổ sung ý kiến gì thêm, nhất trí và không tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên tỉnh Lai Châu.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Than Uyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình S. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, lời khai của những người làm chứng và những chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, với hành vi mà bị cáo đã thực hiện đã có đủ cơ sở để kết luận: Vào ngày 16/6/2018, Hoàng Văn N đã đi tìm mua trái phép Heroine của người không rõ lai lịch tại khu vực giáp ranh giữa xã MK và xã Hồ Bốn, huyện Mù Cang Chải 01 gói Heroine giá 1.200.000 đồng, mục đích bán kiếm lời. Mua được Heroine, N mang về cất giấu tại buồng ngủ của gia đình mình. Khoảng 09 giờ cùng ngày, N bán trái phép cho Tòng Văn T 01 gói Heroine lấy số tiền 100.000 đồng. Đến khoảng 09 giờ ngày 17/6/2018, N cùng lúc bán trái phép cho Hoàng Văn S, Lò Văn S 01 gói Heroine giá 200.000 đồng. Đến khoảng 10 giờ 30 phút, N tiếp tục bán trái phép cho Tòng Văn T 01 gói Heroine lấy 100.000 đồng. Số tiền thu lời từ việc bán trái phép chất ma túy mà bị cáo thu được là 400.000 đồng. Bị cáo đã tiêu sài cá nhân hết 130.000 đồng, số tiền còn lại là 270.000 đồng đã bị tạm giữ trong quá trình khám xét khẩn cấp đối với Hoàng Văn N. Hành vi nêu trên của bị cáo Hoàng Văn N đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung: “Phạm tội 02 lần trở lên” được quy định tại điểm b khoản 2 điều 251; “Đối với 02 người trở lên” được quy định tại điểm c khoản 2 điều 251 – Bộ luật Hình S 2015. Hơn nữa, bị cáo đã có 03 tiền án vào năm 2005, 2009 và 2013, hiện chưa được xóa án tích. Vì vậy, lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp “tái phạm nguy hiểm”.
Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu truy tố đối với bị cáo Hoàng Văn N về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, c, q khoản 2 điều 251 – Bộ luật Hình S 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định.
Đánh giá tính chất, mức độ phạm tội: Như chúng ta đã biết công tác đấu tranh phòng chống tệ nạn ma túy đang là nhiệm vụ cấp bách của toàn xã hội. Vì vậy, mọi hành vi tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép chất ma túy đều phải bị xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý xâm phạm trật tự an toàn xã hội, xâm phạm sức khỏe và S phát triển giống nòi dân tộc, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, làm ảnh hưởng đến các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước, ma túy cũng là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tội phạm khác. Do đó, cần phải có một hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội trên cơ sở đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình S và nhân thân của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
Xét về nhân thân: Bị cáo Hoàng Văn N là một người đã có 03 tiền án về các tội phạm liên quan đến chất ma túy chưa được xóa án tích. Từ năm 2005 đến 2013 bị cáo liên tục phạm tội trong thời gian chưa được xóa án tích. Đặc biệt tại bản án số 50/2013/HSST ngày 13/3/2013 với mức án 07 năm tù giam, bị cáo đang được tạm hoãn thi hành án với lý do sức khỏe không đảm bảo cho việc chấp hành án. Đáng lẽ ra bị cáo phải tích cực thuốc thang điều trị cho bệnh tình thuyên giảm để đi chấp hành án, thực hiện nghĩa vụ của một người bị kết án, có thời gian cải tạo giáo dục bản thân. Tuy nhiên, bị cáo đã lợi dụng vào chính sách nhân đạo của Nhà nước, không lấy đó là bài học cho bản thân mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội trong thời gian được tạm hoãn thi hành án. Điều này, thể hiện bị cáo là người có nhân thân xấu, thiếu ý thức tu dưỡng, rèn luyện, thể hiện thái độ coi thường pháp luật.
Đối với bản án số 50/2013/HSST ngày 13/3/2013 của Tòa án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu xử phạt bị cáo 07 năm tù, trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam là 06 ngày. Bị cáo còn phải chấp hành là 06 năm 11 tháng 24 ngày về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý". Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Bản án này đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị cáo chưa đi thi hành do đang bị bệnh nặng. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 điều 56 – BLHS 2015 để tổng hợp hình phạt và buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình S: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại xã đặc biệt khó khăn theo Quyết định 900/TTg ngày 20/6/2017 của Thủ tướng Chính phủ. Do đó xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51- Bộ luật hình S 2015.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình S: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình S.
Biện pháp ngăn chặn: Cần áp dụng điều 329 – Bộ luật Tố tụng Hình S 2015, tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo việc thi hành án, thời gian tạm giữ, tạm giam sẽ được khấu trừ vào thời gian chấp hành hình phạt tù.
Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, theo quy định tại khoản 5 điều 251 – Bộ luật Hình S 2015 quy định: “ Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đồng đến 500.000.000đồng.......”. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là người nghiện chất ma túy, nghề nghiệp chính là trồng trọt, không có nguồn thu nhập nào khác, điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng các hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng củ a vụ án là:
Đối với 1,80 gam Heroine (còn lại sau giám định) là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với số tiền 270.000đồng thu giữ của Hoàng Văn N là tiền bán trái phép chất ma túy mà có nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Về nguồn gốc số Heroine bị cáo Hoàng Văn N khai mua của người đàn ông không rõ lai lịch nên không có căn cứ để điều tra làm rõ.
Đối với Hoàng Văn S, Lò Văn S, Tòng Văn T đã có hành vi vi phạm hành chính về việc tàng trữ trái phép 0,04 gam Heroine và sử dụng trái phép chất ma túy. Khối lượng Heroine thu giữ chưa đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình S nên Công an huyện Than Uyên đã ra quyết định xử phạt vi hành chính là đúng quy định.
Về án phí hình S sơ thẩm: Bị cáo sinh sống tại xã có điều kiện kinh tế khó khăn theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ nên HĐXX xem xét miễn 200.000 đồng tiền án phí HSST cho bị cáo.
Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo: Hoàng Văn N phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý".
1. Về hình phạt:
Căn cứ các điểm b, c, q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 2 Điều 56 của Bộ luật hình S 2015.
Xử phạt bị cáo Hoàng Văn N 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù.
Tổng hợp hình phạt 07 (bảy) năm tại bản án số: 50/2013/HSST ngày 13/3/2013 của Tòa án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu. Buộc bị cáo phải chấp hành chung của cả hai bản án là 15 (mười lăm) năm 06 (sáu) tháng tù, được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam của bản án số: 50/2013/HSST là 06 (sáu) ngày. Bị cáo còn phải thi hành là 15 (mười lăm) năm 05 (năm) tháng 24 (hai mươi bốn) ngày tù.
Thời hạn thi hành hình phạt tù tính từ ngày 17/6/2018.
2. Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 - Bộ luật hình S 2015 và Điều 106 - Bộ luật tố tụng hình S 2015.
- Tịch thu tiêu hủy 1,80 gam Heroine thu giữ của bị cáo Hoàng Văn N.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 270.000 đồng thu giữ của Hoàng Văn N.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/11/2018).
3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQHQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Miễn 200.000 đồng tiền án phí hình S sơ thẩm cho bị cáo Hoàng Văn N.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, Điều 333 – Bộ luật Tố tụng hình S 2015, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lai Châu; - VKSND tỉnh Lai Châu; - VKSND H. Than Uyên (2b); - THA dân S H. Than Uyên; - CQĐT huyện Than Uyên; - CQ THAHS H. Than Uyên; - Nhà tạm giữ CAH. Than Uyên; - THA PT; - Bị cáo; - Sở Tư pháp Lai Châu; - Lưu HS – TA. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lƣơng Thị Mỹ Hằng THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lƣơng Thị Mỹ Hằng |