vanban.org

Bản án 61/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La Tuyên án 17/10/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Giàng A Th, phạm Tội mua bán trái phép chất ma túy.

Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy 04 viên nén màu hồng khối lượng 0,379 gam loại Me thamphetamine cùng vỏ nilon, phong bì gói thuốc ban đầu (đã được niêm phong) và 01 túi vải thổ cẩm kích thước 37cm x 23cm, miệng túi c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Giàng A Th - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Giàng A Th, phạm Tội mua bán trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÙ YÊN,
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2018/HSST
Ngày 17/10/2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ YÊN, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà ông Cầm Văn Thăm

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Văn Hải và Bà Lê Thị Bống.

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Ngoãn - thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La: Bà Đinh Thị Hằng, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa.

Ngày 17/10/2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 67/2018/TLST- HS ngày 27/9/2018 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2018/QĐXXST-HS ngày 03/10/2018 đối với bị cáo Giàng A Th, sinh 01/01/1978 tại Kim Bon. Nơi cư trú Bản D, xã Kim B, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp trồng trọt; Quốc tịch Việt Nam; dân tộc Mông; tôn giáo không; đảng phái đoàn thể không. Trình độ học vấn không biết chữ, con ông Giàng A N, con bà Sồng Thị C (đều đã chết); vợ Sồng Thị D và 04 con; tiền án, tiền sự không. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/7/2018 cho đến ngày xét xử (có mặt tại phiên tòa).

- Người phiên dịch cho bị cáo Giàng A Th là Ông Cầm Đình Cốc, trú tại khối 12 thị trấn Phù Yên, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La.

- Người bào chữa cho bị cáo Giàng A Th là Ông Cầm Trọng Thủy, trợ giúp viên trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Sơn La.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau

Khoảng 17h ngày 18/7/2018 Giàng A Th mang theo 100 viên ma túy tổng hợp xuống bản C, xã Tường H để bán cho một người không biết tên, địa chỉ, trong lúc đang trao đổi thì bị tổ công tác Công an huyện Phù Yên phát hiện và bắt giữ, thấy vậy Th ném gói ma túy xuống suối nước, tổ công tác đã nhanh chóng thu giữ được 09 viên nén màu hồng ma túy tổng hợp niêm phong lại, số còn lại đã tan hết; thu giữ 01 chiếc ĐTDĐ và 01 túi vải thổ cẩm.

Ngày 19/7/2018 cơ quan CSĐT Công an huyện Phù Yên, VKSND huyện phối hợp với công an tỉnh và người bị bắt tiến hành mở niêm phong cân tịnh:

- 09 viên nén màu hồng có khối lượng 0,866gam; lấy 05 viên có khối lượng 0,487 gam ký hiệu T gửi giám định, số còn lại 04 viên khối lượng 0,379 gam niêm phong lại.

Tại bản kết luận giám định số 907/KL- MT ngày 25/7/2018 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận:

- Mẫu vật gửi giám định ký hiệu T là chất ma túy, loại Methamphetamine; khối lượng gửi giám định 0,487gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,866 gam loại Me thamphetamine;

Tại cơ quan điều tra bị cáo khai trước ngày bị bắt 10 ngày bị cáo vào thị trấn Phù Yên chơi có gặp một người hỏi mua ma túy, nhưng bị cáo không có sau đó hai người làm quen và xin số điện thoại nhau. Đến khoảng 15h ngày 18/7/2018 Th nhận được 01 cuộc điện thoại của người kia hỏi mua ma túy, Th trả lời là có và hẹn địa điểm giao hàng, khi 02 người gặp nhau trong lúc đang trao đổi thì bị Công an phát hiện người kia bỏ chảy, còn Th bị bắt giữ và thu cùng vật chứng nói trên.

VKSND huyện Phù Yên có bản cáo trạng số: 49/CT-VKS- PY ngày 25/9/2018 truy tố Giàng A Th theo khoản 1 Điều 251 BLHS về Tội mua bán trái phép chất ma túy. Tại phiên tòa Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa vẫn giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố bị cáo về Tội mua bán trái phép chất ma túy và đề nghị HĐXX:

+ Về hình phạt. Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s Khoản 1 Điều 51 BLHS xử phạt bị cáo từ 24-30 tháng tù.

+ Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; các điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS:

- Tịch thu tiêu hủy 04 viên Methamphetamine; khối lượng 0,379 gam số ma túy còn lại và 01 túi vải thổ cẩm đã qua sử dung không có giá trị sử dụng.

- Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 chiếc ĐTDĐ

- không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo

Đối với người mua ma túy, bị cáo khai không quen biết người đó là ai ở đâu, hơn nữa trong lúc bắt Giàng A Th thì người thanh niên kia đã bỏ chạy. Do vậy cơ quan điều tra công an huyện không có căn cứ để điều tra xác minh làm rõ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án và căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

[-] Về hành vi quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, điều tra viên. Viện kiểm sát nhân dân và kiểm sát viên tham gia trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục tố tụng được quy định trong BLTTHS và bị cáo không có ý kiến gì khiếu nại về quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng, do đó HĐXX khẳng định các quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[-] Tại phiên tòa bị cáo Giàng A Th, thừa nhận hành vi phạm tội của mình do hám lời từ việc mua bán ma túy, nên dẫn đến phạm tội và mong HĐXX xem xét giảm nhẹ mức hình phạt tù cho bị cáo. Việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên truy tố bị cáo về Tội mua bán trái phép chất ma túy được quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS là hoàn toàn có căn cứ pháp luật.

Tại khoản 1 Điều 251 BLHS quy định: "Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

Ngoài ra tại khoản 5 Điều 251 BLHS còn quy định: "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, ..tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản".

[-] Xét tính chất mức độ hành vi phạm Tội mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, nó xâm phạm trực tiếp đến khách thể thuộc quyền quản lý đặc biệt của nhà nước, xuất phát từ việc hám lời, nên bị cáo đã bất chấp pháp luật để thực hiện hành vi phạm tội, khi bị bắt giữ bị cáo còn cố ý ném gói ma túy xuống sông để nhằm trốn tránh trách nhiệm hình sự, gây khó khăn cho việc bắt người phạm tội quả tang. Hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh tại biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 18h40’ ngày 18/7/2018; biên bản cân tịnh vật chứng ngày 19/7/2018 của Công an huyện Phù Yên và kết luận giám định số 907/KL- MT ngày 25/7/2018 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La. Từ các căn cứ trên đủ kết tội bị cáo phạm Tội mua bán trái phép chất ma túy, cần được xét xử nghiêm minh, phù hợp với tính chất mức độ, hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện.

[-] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

[-] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, khi phạm tội thành khẩn khai báo, được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS nhưng chưa thực sự ăn năn hối cải, hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, bị cáo có nhân thân xấu thường giao du với đối tượng nghiện ma túy khác. Do đó cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội trong một khoảng thời gian nhất định đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo sớm trở thành công dân có ích cho xã hội sau này.

* Về vật chứng vụ án:

+ Cần tịch thu tiêu hủy 04 viên nén màu hồng khối lượng 0,379 gam loại Me thamphetamine và 01 túi vải thổ cẩm của bị cáo đã qua sử dụng không có giá trị sử dụng.

+ 01 chiếc ĐTDĐ hiệu MASTEL vỏ màu đen tại phiên tòa bị cáo khai đó là tài sản của bị cáo, bị cáo đã dùng để gọi cho người mua ma túy, được coi là công cụ dùng vào việc phạm tội, Tòa cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.

* Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có tài sản gì, nên không áp dụng.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên kiểm sát xét xử đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s Khoản 1 Điều 51 BLHS xử phạt bị cáo từ 24-30 tháng tù và xử lý vật chứng vụ án theo quy định. HĐXX thấy ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên, kiểm sát xét xử tại phiên tòa là hoàn toàn có căn cứ Tòa cần chấp nhận.

Cũng tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo Giàng A Th có quan điểm và đề nghị HĐXX xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như không có tiền án, tiền sự, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo không biết chữ quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS để lên mức hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. HĐXX cần xem xét cho phù hợp theo quy định của PL.

* Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định chung của pháp luật. Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Giàng A Th, phạm Tội mua bán trái phép chất ma túy.

Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s Khoản 1 Điều 51 BLHS xử phạt bị cáo Giàng A Th 25 (hai mươi lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 18/7/2018.

2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS:

- Tịch thu tiêu hủy 04 viên nén màu hồng khối lượng 0,379 gam loại Me thamphetamine cùng vỏ nilon, phong bì gói thuốc ban đầu (đã được niêm phong) và 01 túi vải thổ cẩm kích thước 37cm x 23cm, miệng túi có xéc khóa, dây đeo dài 76cm.

- Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 chiếc ĐTDĐ nhãn hiệu hiệu MASTEL vỏ màu đen, số IMEI 8683550139043; IMEI2 868355013749048 đã qua sử dụng đựng trong phong bì thư (được niêm phong).

3. Hình phạt bổ sung: không áp dụng đối với bị cáo.

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 các Điều 135, 136 BLTTHS; Khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, bị cáo Giàng A Th phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí HSST.

5. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 BLTTHS. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.

Cỡ chữ