vanban.org

Bản án 61/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hòa Vang, TP Đà Nẵng Tuyên án 15/11/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc T (B) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc T 05 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24.8.2018. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc T (B) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
H. HÒA VANG - TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

[
Bản án số 61/2018/HS-ST
Ngày 15.11.2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN H. HÒA VANG - TP. ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Đặng Ngọc Cường

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Hùng và ông Tán Nghị.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Hoàng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang tham gia phiên toà: Ông Trần Minh Quang - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 15.11.2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 60/2018/HSTT ngày 09.10. 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2018/QĐXXST-HS ngày 02.11. 2018 đối với bị cáo:

NGUYỄN NGỌC T (B), sinh ngày 29.5.1998; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chổ ở hiện nay: Đường Q, phường Đ, quận S, thành phố Đà nẵng; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam;

Con ông Nguyễn Ngọc L và bà Thái Thị Kim A.

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 24.8.2018, tạm giam từ ngày 30.8.2018; có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:NLQ1, sinh năm 1998 và NLQ2, sinh năm 1979. Cùng địa chỉ: Đường K, phường H, quận N, thành phố Đà nẵng. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 11 giờ 35 phút, ngày 24.8.2018, lực lượng Bộ đội biên phòng thuộc Đồn biên phòng Non Nước tiến hành kiểm tra 02 đối tượng có biểu hiện khả nghi sử dụng ma tuý là Nguyễn Ngọc T và NLQ1 Qua test nước tiểu xác định 02 đối tượng T và NLQ1 đều dương tính với chất ma tuý. Qua đấu tranh, T khai nhận vào ngày 22.8.2018, T vào TP.Hồ Chí Minh dự sinh nhật của bạn và có sử dụng ma tuý. Sau buổi sinh nhật, T giữ lại 02 viên thuốc lắc và 01 gói ma tuý loại Ketamin. Đến sáng ngày 23.8.2018, T mua của một người thanh niên tên T2 02 gói ma tuý loại Ketamin và 45 viên thuốc lắc với giá 18.000.000 đồng. Sau khi mua được ma tuý, T đón xe khách về Đà Nẵng và gọi điện thoại cho NLQ1 đến chở T về nhà. Trên đường về thì T yêu cầu NLQ1 dừng xe để T xuống xe và cất giấu toàn bộ số ma tuý có được tại một bụi cỏ ven đường Bàu Cầu 16, thuộc thôn Bàu Cầu, xã Hoà Châu, huyện Hoà Vang rồi đi về nhà. Khi NLQ1 chở T về đến cầu Tuyên Sơn thì bị lực lượng Biên phòng Non Nước bắt giữ. Qua điều tra, T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, đồng thời chỉ ra vị trí cất giấu ma tuý. Trên cơ sở lời khai nhận của Nguyễn Ngọc T, Đồn biên phòng Non Nước đã thông báo và phối hợp với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hoà Vang tiến hành đưa T đến địa điểm cất giấu ma tuý. Tại khu vực đường Bàu Cầu 16, thuộc tổ 6, thôn Bàu Cầu, xã Hoà Châu, huyện Hoà Vang, Nguyễn Ngọc T đã lấy các gói ma tuý cất giấu dưới bụi cỏ bên đường giao cho Cơ quan điều tra Công an huyện Hoà Vang.

* Tang vật thu giữ:

- 01 bao ni lông bên trong có 02 gói ni lông, trong mỗi gói ni lông đều có chứa chất bột màu trắng, 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng gói bên trong chất bột màu trắng; 46 viên nén màu xanh có in hình điện thoại; 01 viên nén màu xanh có in hình Vương Miện.

- 01 điện thoại di dộng hiệu Iphone màu đen-xám kèm theo thẻ sim;

- 01 điện thoại di động hiệu Sony Xperia màu đen-xám kèm theo thẻ sim;

- 01 xe mô tô hiệu Taurus màu trắng, biển kiểm soát 43P1-8600;

- 200.000 đồng tiền mặt.

Tại bản kết luận giám định số 164 , ngày 29/8/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an TP.Đà Nẵng kết luận:

- Các viên nén màu xanh ký hiệu A1 là ma tuý, loại MDMA, có tổng trọng lượng 18,163 gam

- Viên nén màu xanh ký hiệu A 2 là ma tuý, loại Methaphethamine, có trọng lượng 0,370 gam

- Chất tinh thể màu trắng ký hiệu A3 là ma tuý, loại Ketamine, có tổng trọng lượng là 18,441 gam.

* Về xử lý vật chứng trong quá trình điều tra:

- Xe mô tô hiệu Taurus màu trắng, biển kiểm soát 43P1-8600 thuộc sở hữu của NLQ2, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho NLQ2.

Bản cáo trạng số 56/KSĐT ngày 09.10.2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố Nhà nước tại phiên tòa trình bày luận tội giữ nguyên Cáo trạng truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm n khoản 2 điều 249, điểm s, r khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo T từ 06 năm tù đến 07 năm tù. Đồng thời Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy vật chứng là ma túy còn lại sau giám định, trả lại 02 điện thoại di động và 200.000đ cho bị cáo.

* Lời trình bày của NLQ1 như sau: Tôi là bạn của T, vào ngày 44.8.2018, T gọi điện nhờ tôi sang đường quốc lộ chở T về nhà, trên đường về T có nói tôi dừng lại ở đoạn đường vắng thuộc xã Hòa Châu, huyện Hòa Vang để T đi vệ sinh. Tôi không biết T mua ma túy và cất giấu ma túy. Xe máy tôi dùng để chở T là của mẹ tôi cho tôi mượn.

* Lời trình bày của NLQ2 như sau: Tôi là mẹ của NLQ1 và là chủ xe máy 43P1 - 8600. Xe này tôi có cho con trai tôi mượn đi và con trai tôi có chở T từ Hòa Vang về đến Ngũ Hành Sơn thì bị tạm giữ. Hiện nay tôi đã nhận lại xe máy và không có yêu cầu gì.

Bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN;

[1] Về thủ tục:

Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thu thập đúng trình tự quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Cơ quan điều tra Công an huyện Hòa Vang, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, Điều tra viên cũng như Kiểm sát viên đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ mà pháp luật quy định. Các hành vi, quyết đinh tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân và của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố là hợp pháp được chấp nhận để làm cơ sở giải quyết vụ án.

[2] Về nội dung:

Tại phiên toà hôm nay, bị cáo T đã khai nhận toàn bộ diễn biến sự việc mua ma túy vào ngày 23.8.2018 và tàng trữ ma túy vào ngày 24.8.2018, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ mà Cơ quan điều tra đã thu thập được. Hội đồng xét xử đủ cơ sở để xác định: Vào ngày 24.8.2018, bị cáo Nguyễn Ngọc T đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 18,163 gam ma tuý loại MDMA, 0,370 gam ma tuý loại Methaphethamine và 18,441 gam ma tuý loại Ketamine, hành vi của bị cáo T đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự.

Xét tính chất vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy: Ma tuý hiện đang là tệ nạn của xã hội, gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ, trí lực của con người và là nguyên nhân của các vi phạm pháp luật khác. Ma túy ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình trật tự trị án và an toàn xã hội. Bị cáo T là người có đầy đủ năng lực hành vi và nhận thức được những tác hại đó, biết được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội và bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố tình thực hiện hành vi mua, sử dụng và tàng trữ chất ma túy vào ngày 23 và 24.8.2018. Theo quy định của pháp luật thì Methamphetamine, MDMA và Ketamine là các chất ma túy Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, sản xuất và sử dụng. Hành vi của bị cáo trực tiếp xâm hại đến quyền quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma tuý. Bị cáo tàng trữ trái phép ba chất ma túy và có tổng trọng lượng các chất ma túy nằm trong khung hình phạt quy định từ điểm e đến điểm m khoản 2 điều 294 Bộ luật hình sự nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm n khoản 2 điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Hội đồng xét xử sẽ quyết định hình phạt bị cáo ở mức hình phạt tương xứng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện, cần cách ly bị cáo một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt và phòng ngừa chung cho xã hội.

[3] Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội, bị cáo đã tự thú về hành vi tàng trữ ma túy của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, r khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

[4] Về xử lý vật chứng:

- 01 xe mô tô hiệu Taurus màu trắng, biển kiểm soát 43P1-8600 thuộc sở hữu của NLQ2, NLQ2 cho con ruột của mình là NLQ1 mượn đi lại và không biết việc NLQ1 sử dụng chở bị cáo T nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý mà trả lại chiếc xe trên cho NLQ2. Việc xử lý vật chứng là đúng quy định của pháp luật.

- Mẫu vật hoàn trả sau giám định theo Kết luận giám định số 164, ngày 29/8/2018 của Phòng kỷ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng, là vật cấm tàng trữ lưu hành nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 để tuyên tịch thu tiêu hủy.

- Số tiền 200.000 đồng; 01 điện thoại di dộng hiệu Iphone màu đen-xám kèm theo thẻ sim và 01 điện thoại di động hiệu Sony Xperia màu đen-xám kèm theo thẻ sim thu giữ của bị cáo T không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho bị cáo.

Có đối tượng tên T2 là người đã bán chất ma tuý cho bị cáo T chưa xác định được lai lịch, khi nào xác định được sẽ xử lý sau.

Đối với NLQ1, là người đã chở T đi từ địa bàn huyện Hoà Vang về quận Sơn Trà, quá trình điều tra xác định NLQ1 không liên quan đến hành vi phạm tội của T nên Công an huyện Hòa Vang không đề cập xử lý.

[5] Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo T phải chịu 200.000đ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1.Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc T (B) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Căn cứ: Điểm n Khoản 2 Điều 249; Điểm s, r Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc T 05 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24.8.2018.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

- Tuyên tịch thu tiêu hủy mẫu vật hoàn trả sau giám định gồm 13,816 gam ma túy loại MDMA, 15,870 gam ma túy Kentamin theo được niêm phong trong phong bì có đóng dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng,

- Tuyên trả lại cho bị cáo Nguyễn Ngọc T số tiền 200.000 đồng; 01 điện thoại di dộng hiệu Iphone màu đen-xám kèm theo thẻ sim và 01 điện thoại di động hiệu Sony Xperia màu đen-xám kèm theo thẻ sim.

Các vật chứng trên hiện đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòa Vang theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09.10.2018.

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Ngọc T phải chịu 200.000đ.

Án xử công khai, bị cáo, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. N¬i nhËn:

Cỡ chữ