vanban.org

Bản án 608/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tình cảm: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lưu Phương T. Chị Lưu Phương T được ly hôn anh Trịnh Văn T1.

Về con chung: Xác nhận hai bên có 03 con chung là Trịnh Khuê T2, sinh ngày 22/02/2014, Trịnh Tuấn D, sinh ngày 19/10/2018 và Trịnh Khả H, sinh ngày 09/02/2021. Giao chị T trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cháu T2 và cháu H, giao anh T1 trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cháu D thời gian kể từ tháng 06/… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lưu Phương T"
  • Tòa quyết gì? Về tình cảm: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lưu Phương T. Chị Lưu Phương T được ly hôn anh Trịnh Văn T1.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 11 - HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------------
Bản án số:608/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 23/06/2026
V/v: Xin ly hôn giữa chị Lưu Phương T
và anh Trịnh Văn T1

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Tự Hiếu

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Mai và bà Lê Thị Thu Hạnh

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thùy Liên- Cán bộ Toà án nhân dân khu vực 11- Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11- Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Hoàng Phương- Kiểm sát viên

Ngày 23 tháng 06 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 11- Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 85/2026/TLST- HNGĐ ngày 27 tháng 01 năm 2026 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 189/2026/QĐXX ngày 08/05/2026 và Quyết định hoãn phiên toà số 186/2026/QĐ- HPT ngày 28/05/2026, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Lưu Phương T, sinh năm 1989

Nơi thường trú: Phòng X, khu đô thị Đ, xã T, huyện Thanh Trì, TP. Hà Nội nay là xã Đ, TP. Hà Nội.

Trú tại: Nhà số X, ngõ Y, xóm đầu làng, thôn C, xã T, thành phố Hà Nội.

(Chị T có mặt)

* Bị đơn: Anh Trịnh Văn T1, sinh năm 1982

Nơi thường trú và trú tại: Phòng X, khu đô thị Đ, xã T, huyện Thanh Trì, TP. Hà Nội nay là xã Đ, TP. Hà Nội.

(Anh T1 vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn xin ly hôn và các lời khai tại Toà án, nguyên đơn là chị Lưu Phương T trình bày:

- Về tình cảm: Tôi và anh Trịnh Văn T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã Trà Giang, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình ngày 30/01/2013. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại P2839 – CT10B, KĐT Đại Thanh, xã Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội nay là xã Đại Thanh, TP. Hà Nội.

Quá trình chung sống, chúng tôi sống hạnh phúc một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân chủ yếu là bất đồng quan điểm sống, lối sống, sinh hoạt gia đình, anh T1 không gọn gàng, không phụ giúp vợ công việc nhà khiến tôi hay cáu gắt, cằn nhằn do thấy nhà cửa bừa bộn. Ngoài ra vợ chồng còn mâu thuẫn trong việc nuôi dạy con cái, anh T1 cho rằng tôi không biết nuôi dạy con, vợ chồng kinh tế riêng biệt, đối với các khoản chi tiêu gia đình mỗi người đóng góp một nửa, tình cảm vợ chồng càng ngày càng xa cách. Do tôi bán hàng online nên phải cất nhiều hàng hóa trong nhà, đến tháng 7/2024, anh T1 yêu cầu tôi phải chuyển hàng đi chỗ khác nên tôi đã thuê nhà chỗ khác để ở và bán hàng. Đến tháng 10/2025, tôi chuyển đến ở tại nhà số 3, ngõ 1, xóm đầu làng, thôn Cổ Điển A, xã Thanh Trì, thành phố Hà Nội cho đến nay, vợ chồng không ai quan tâm đến ai.

Nay tôi xác định tình cảm vợ chồng với anh T1 không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tôi đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn anh T1.

- Về con chung: Tôi và anh T1 có 03 con chung là Trịnh Khuê T2, sinh ngày 22/02/2014, Trịnh Tuấn D, sinh ngày 19/10/2018 và Trịnh Khả H, sinh ngày 09/02/2021. Hiện cháu T2 và cháu H đang ở cùng với tôi, còn cháu D đang ở cùng anh T1

Khi ly hôn tôi có nguyện vọng trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cháu T2 và cháu H vì các cháu là con gái ở với mẹ sẽ đảm bảo phát triển về tâm sinh lý, để anh T1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu D vì cháu là con trai nên ở với bố sẽ thuận cho cháu trong việc giáo dục giới tính và phát triển tâm lý con trai. Về việc đóng góp phí tổn nuôi con, tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết

Hiện tôi bán hàng online, thu nhập bình quân khoảng 20.000.000 đồng/tháng. Tôi đang thuê nhà ổn định và có thời gian chăm sóc, nuôi dạy con tốt

- Về tài sản chung, nhà ở chung, công nợ: Tôi và anh T1 không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn là anh Trịnh Văn T1, trong quá trình Toà án thụ lý giải quyết vụ án đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần để Toà án giải quyết vụ án, tiếp cận và công khai chứng cứ, thông báo về việc thu thập được chứng cứ, tài liệu, thông báo về phiên hoà giải về việc chị Lưu Phương T xin ly hôn nhưng anh T1 vẫn vắng mặt không có lý do

Tại phiên toà:

- Chị Lưu Phương T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện

- Anh Trịnh Văn T1 vắng mặt không có lý do

- Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà phát biểu ý kiến về việc tuân thủ pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án như sau:

- Quá trình tiến hành tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ thủ tục theo quy định của pháp luật

- Đối với việc chấp hành pháp luật của đương sự:

+ Nguyên đơn chấp hành, đảm bảo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự

+ Bị đơn không chấp hành đầy đủ, không có mặt, không đưa ra các tài liệu chứng cứ để bảo vệ quyền lợi của mình

* Về nội dung vụ án: Chị T và anh T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Quá trình chung sống, anh chị chung sống hạnh phúc bình thường một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân chủ yếu là do vợ chồng tính cách không hợp, bất đồng quan điểm. Ngoài ra anh chị còn bất đồng về cách nuôi dạy con cái, từ đó trở đi vợ chồng mâu thuẫn căng thẳng nên chị T cùng 02 con đã chuyển đến nơi khác ở.

Nay nguyên đơn xác định tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/NQ- UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

- Về tình cảm: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lưu Phương T. Chị Lưu Phương T được ly hôn anh Trịnh Văn T1

- Về con chung: Chị T và anh T1 có 03 con chung là Trịnh Khuê T2, sinh ngày 22/02/2014, Trịnh Tuấn D, sinh ngày 19/10/2018 và Trịnh Khả H, sinh ngày 09/02/2021.

Giao chị T có nguyện vọng trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cháu T2 và cháu H, giao anh T1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu D.

Chị T và anh T1 đều có quyền gặp gỡ, chăm sóc con chung không ai được ngăn cản

- Về tài sản chung, nhà ở chung, công nợ: Chị T xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

- Về án phí: Chị T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

* Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng:

- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Lưu Phương T xin ly hôn anh Trịnh Văn T1 có nơi thường trú và trú tại: P2839 – CT10B, KĐT Đại Thanh, xã Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì, TP. Hà Nội nay là xã Đại Thanh, TP. Hà Nội. Toà án nhân dân khu vực 11- Hà Nội thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự

- Về thủ tục tố tụng: Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã thực hiện đầy đủ thủ tục theo quy định của pháp luật, bị đơn là anh Trịnh Văn T1 đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần để giải quyết vụ án, để tham gia phiên hoà giải, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ nhưng anh T1 đều vắng mặt. Ngày 28/05/2026, Toà án đã mở phiên toà lần thứ nhất để xét xử vụ án nhưng anh T1 vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên toà và ấn định xét xử vào ngày 23/06/2026. Tại phiên toà ngày 23/06/2026, anh T1 vẫn vắng mặt không có lý do, xét thấy đây là lần thứ hai anh T1 vắng mặt không có lý do mặc dù đã được tống đạt hợp lệ nên Toà án tiến hành xét xử vắng mặt anh T1 theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

* Về quan hệ hôn nhân: Chị Lưu Phương T và anh Trịnh Văn T1 đăng ký kết hôn tại UBND xã Trà Giang, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình ngày 30/01/2013. Đây là một hôn nhân hợp pháp.

Quá trình chung sống, anh chị sống hạnh phúc một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân chủ yếu là bất đồng quan điểm sống, sinh hoạt gia đình, vợ chồng không có sự cảm thông, chia sẻ với nhau. Ngoài ra vợ chồng còn mâu thuẫn trong việc nuôi dạy con cái, vợ chồng kinh tế riêng biệt. Do mâu thuẫn căng thẳng nên đến tháng 10/2025, chị T đã chuyển đến ở tại nhà số 3, ngõ 1, xóm đầu làng, thôn Cổ Điển A, xã Thanh Trì, thành phố Hà Nội ở cho đến nay, vợ chồng sống ly thân, không ai quan tâm đến ai.

Quá trình giải quyết vụ án, anh T1 không có bất cứ lời khai nào, không xuất trình được tài liệu, chứng cứ mà có thái độ chống đối, không hợp tác với Cơ quan pháp luật để bảo vệ quyền lợi cho mình theo quy định tại khoản 1 Điều 96 Bộ luật tố tụng dân sự. Anh T1 đã được Toà án tạo điều kiện để tham gia phiên hoà giải nhưng đều vắng mặt không có lý do cho thấy anh T1 không có mong muốn đoàn tụ với chị T. Điều đó thể hiện mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh T1 là trầm trọng, vợ chồng đã sống ly thân, tình cảm vợ chồng đã rạn nứt, không thể hàn gắn được. Vì vậy Hội đồng xét xử nhận thấy cuộc sống chung giữa chị T và anh T1 không có hạnh phúc, mâu thuẫn trầm trọng kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của chị T đối với anh T1 là có căn cứ và phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được chấp nhận

* Về con chung: Chị T và anh T1 có 03 con chung là Trịnh Khuê T2, sinh ngày 22/02/2014, Trịnh Tuấn D, sinh ngày 19/10/2018 và Trịnh Khả H, sinh ngày 09/02/2021.

Xét việc chăm sóc nuôi dưỡng con chung là quyền và trách nhiệm của cha mẹ đối với con chưa thành niên. Khi ly hôn, chị T có nguyện vọng trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cháu T2 và cháu H vì các cháu là con gái ở với mẹ sẽ đảm bảo phát triển về tâm sinh lý, để anh T1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu D vì cháu là con trai nên ở với bố sẽ tốt hơn trong việc giáo dục giới tính và phát triển tâm lý con trai, bản thân cháu T2 có nguyện vọng ở cùng chị T, cháu D có nguyện vọng ở cùng anh T1. Hội đồng xét xử nhận thấy nguyện vọng của chị T, cháu T2 và cháu D là chính đáng và phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân gia đình. Do đó giao chị T trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cháu T2 và cháu H, giao anh T1 trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cháu D thời gian kể từ tháng 06/2026 đến khi đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về việc đóng góp phí tổn nuôi con, chị T không yêu cầu giải quyết do đó không xem xét

Chị T, anh T1 đều có quyền gặp gỡ và chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản.

- Về tài sản chung, nhà ở chung, công nợ: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Quá trình giải quyết vụ án cho đến khi Toà án công khai chứng cứ và Quyết định đưa vụ án ra xét xử, anh T1 không có yêu cầu phản tố nên Toà án không xét. Nếu sau này phát sinh tranh chấp các đương sự có quyền khởi kiện đến Toà án bằng một vụ án khác theo quy định của pháp luật.

* Về án phí: Chị Lưu Phương T phải chịu án phí HNGĐ sơ thẩm

Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Căn cứ các Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/NQ- UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Xử:

1. Về tình cảm: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lưu Phương T. Chị Lưu Phương T được ly hôn anh Trịnh Văn T1.

2. Về con chung: Xác nhận hai bên có 03 con chung là Trịnh Khuê T2, sinh ngày 22/02/2014, Trịnh Tuấn D, sinh ngày 19/10/2018 và Trịnh Khả H, sinh ngày 09/02/2021.

Giao chị T trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cháu T2 và cháu H, giao anh T1 trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cháu D thời gian kể từ tháng 06/2026 đến khi đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về việc đóng góp phí tổn nuôi con, chị T không yêu cầu giải quyết do đó không xem xét.

Chị T, anh T1 đều có quyền gặp gỡ và chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản.

3. Về tài sản chung, nhà ở chung và nợ chung: Chị T không yêu cầu Toà án giải quyết do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

Nếu phát sinh tranh chấp các đương sự có quyền khởi kiện đến Toà án bằng một vụ án khác theo quy định của pháp luật

4. Về án phí: Chị Lưu Phương T phải chịu 300.000 đồng án phí HNGĐ sơ thẩm đã nộp được trừ theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002374 ngày 27/01/2026 tại Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội

Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án

Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ