vanban.org

Bản án 608/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị P.

Bà Nguyễn Thị P được ly hôn với ông Đoàn Văn N. Về con chung: Giao bà Nguyễn Thị P được nuôi dưỡng trẻ Đoàn Nam Ph, sinh ngày 14/8/2011 và trẻ Đoàn Nam Ph T, sinh ngày 04/7/2013. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị P.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 608/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 25/10/2019
V/v: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Mỹ Duyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Khưu Hán Quang.

2. Bà Bùi Thụy Thanh Thảo.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Quốc Thiên Hương – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Việt Anh – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 10 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số: 390/2019/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2019 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2019/QĐXXST- HNGĐ ngày 16 tháng 9 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 64/2019/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1979; địa chỉ thường trú: x lô A chung cư Lạc Long Quân, Phường x, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ liên lạc: xx đường số 14, phường xxxx, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh;

Bà P có đơn xin xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: Ông Đoàn Văn N, sinh năm 1979; địa chỉ: x lô A chung cư Lạc Long Quân, Phường x, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh;

Ông N vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn kh i kiện nhận ngày 14/6/2019 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị P trình bày:

Bà Nguyễn Thị P và ông Đoàn Văn N là vợ chồng hợp pháp chung sống có đăng ký kết hôn theo Giấy đăng ký kết hôn số 75, quyển số 01/2010 do Ủy ban nhân dân xã Xuân Hiệp, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai cấp ngày 07/6/2010.

Vợ chồng chung sống có 02 con chung tên Đoàn Nam Ph, sinh ngày 14/8/2011 và Đoàn Nam Ph T, sinh ngày 04/7/2013.

Trong quá trình chung sống, bà P và ông N phát sinh nhiều mâu thuẫn trong cuộc sống cả về kinh tế và tình cảm. Ông N không lo làm ăn lại ham mê cờ bạc, không quan tâm đến gia đình, vợ con. Ngoài ra, ông N còn thường xuyên có mối quan hệ tình cảm với những người phụ nữ khác, bà P đã nhiều lần tha thứ để gia đình êm ấm và các con có cả cha lẫn mẹ nhưng ông N vẫn không hề thay đổi. Nay bà P nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng thật sự trầm trọng, ông N vẫn không thay đổi, vợ chồng không thể tiếp tục chung sống với nhau nên bà P và các con đã dọn ra sống riêng hơn 01 năm nay. Bà P xác định tình cảm vợ chồng không còn, cả hai không còn liên hệ nhau về mọi mặt nên bà P yêu cầu được ly hôn với ông Đoàn Văn N để sớm ổn định cuộc sống.

- Về con chung: Bà P yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng các con chung là trẻ Đoàn Nam Ph, sinh ngày 14/8/2011 và Đoàn Nam Ph T, sinh ngày 04/7/2013, bà P không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Bà P xác định trong quá trình chung sống bà P với ông N không có tài sản chung, không có nợ chung. Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung, nợ chung.

Ngày 16/9/2019 bà Nguyễn Thị P có nộp Đơn xin vắng mặt tại các phiên tòa xét xử vụ án. Bà P vẫn giữ nguyên yêu cầu như trong Đơn khởi kiện và xin bảo lưu ý kiến của bà đã trình bày trong quá trình giải quyết vụ kiện tại Tòa án.

* Đối với bị đơn ông Đoàn Văn N: Theo kết quả xác minh của Công an Phường 5, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 10/7/2019: “Ông Đoàn Văn N, sinh năm 1979 có hộ khẩu thường trú tại địa chỉ x lô A chung cư Lạc Long Quân, Phường x, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh và hiện đang cư ngụ địa chỉ trên”.

Toà án nhân dân Quận 11 đã thực hiện đầy đủ thủ tục tống đạt trực tiếp, niêm yết các văn bản tố tụng hợp lệ cho ông Đoàn Văn N nhưng ông N không đến Toà án giải quyết. Do đó, Toà án không thể tiến hành lấy lời khai, hoà giải đối với bị đơn được. Tại phiên tòa ông N cũng vắng mặt không rõ lý do.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 có ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử như sau: “Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tiến hành xét xử đúng quy định pháp luật. Về nội dung: Căn cứ vào Điều 56, Điều 81 và Điều 84 Bộ luật Hôn nhân gia đình năm 2014 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ”.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào các Biên bản lời khai đã thể hiện, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng :

* Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Bà Nguyễn Thị P và ông Đoàn Văn N chung sống trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn, đây là hôn nhân hợp pháp. Bà P xin ly hôn với ông N, bị đơn có nơi cư trú tại Quận 11 nên Tòa án nhân dân Quận 11 thụ lý và giải quyết là đúng theo quy định pháp luật tại Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân năm 2015.

* Về người tham gia tố tụng:

Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn là ông Đoàn Văn N nhưng bị đơn vẫn vắng mặt tại phiên tòa không lý do, ngày 16/9/2019 nguyên đơn có Đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại Khoản 2, Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về yêu cầu của các đương sự:

* Về quan hệ hôn nhân: Xét yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị P:

Bà Nguyễn Thị P và ông Đoàn Văn N tự nguyện chung sống với nhau có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường Xuân Hiệp, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 75, quyển số 01/2010 đăng ký ngày 07/6/2010. Quan hệ hôn nhân giữa bà P và ông N là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Theo lời khai bà P: mâu thuẫn giữa bà P và ông N đã phát sinh từ nhiều năm nay, nguyên nhân chủ yếu cả hai bất đồng nhiều mặt trong cuộc sống cả về kinh tế và tình cảm. Mâu thuẫn kéo dài không thể giải quyết được, ông N không có trách nhiệm chăm lo cho gia đình và vợ con lại ham mê cờ bạc và không chung thủy. Xét thấy vợ chồng sống ly thân đã hơn một năm nay, cả hai không còn liên hệ nhau về kinh tế và tình cảm và cũng không có biện pháp gì để vợ chồng hòa giải với nhau để đoàn tụ gia đình cùng lo cho con. Sau khi thụ lý vụ án Tòa án nhiều lần tống đạt các văn bản tố tụng, thông báo cho ông N đến Tòa án để giải quyết vụ án nhưng ông N đều vắng mặt không lý do, thể hiện ông N không có thiện chí hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của Nguyên đơn. Hội đồng xét xử căn cứ vào những nhận định nêu trên và căn cứ vào Khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hôn nhân gia đình năm 2014 đã quy định: “ khi tình trạng hôn nhân đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được thì Tòa án giải quyết cho ly hôn” xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thị P được ly hôn với ông Đoàn Văn N.

* Về con chung: Con chung Đoàn Nam Ph, sinh ngày 14/8/2011 và Đoàn Nam Ph T, sinh ngày 04/7/2013 hiện đang được bà P nuôi dưỡng. Bà P yêu cầu được nuôi hai con và không yêu cầu ông N cấp dưỡng tiền nuôi con.

Tòa án đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án và Thông báo các phiên hòa giải nêu rõ nội dung yêu cầu nuôi con chung của bà P nhưng ông N không có mặt tại Tòa và cũng không có văn bản phản đối về việc yêu cầu được nuôi con chung của bà P. Căn cứ xác minh ngày 10/7/2019 của địa phương hiện nay con chung vẫn do bà P trực tiếp nuôi dưỡng. Vì vậy Hội đồng xét xử nhận thấy để đảm bảo tốt nhât về mọi mặt cho các con chung và tránh xáo trộn về mặt tâm lý cho các trẻ cần chấp nhận yêu cầu của bà P được nuôi dưỡng hai con chung.

Ghi nhận sự tự nguyện của bà P không yêu cầu ông N cấp dưỡng tiền nuôi con

* Về tài sản chung và nợ chung: Bà P xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ghi nhận lời khai của bà P xác định bà và ông N không có tài sản chung và nợ chung. Trường hợp sau này nếu các bên có tranh chấp về tài sản chung và nợ chung sẽ khởi kiện bằng vụ án khác.

Về án phí:

Về án phí dân sự sơ thẩm bà Nguyễn Thị P phải nộp án phí theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Khoản 4 Điều 147, Điều 271, 273, 278 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử :

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị P.

Bà Nguyễn Thị P được ly hôn với ông Đoàn Văn N.

2. Về con chung: Giao bà Nguyễn Thị P được nuôi dưỡng trẻ Đoàn Nam Ph, sinh ngày 14/8/2011 và trẻ Đoàn Nam Ph T, sinh ngày 04/7/2013.

Ghi nhận sự tự nguyện của bà P không yêu cầu ông Đoàn Văn N cấp dưỡng tiền nuôi con.

Ông N được quyền thăm nom và chăm sóc con chung, không ai được quyền cản trở ông N thực hiện quyền này. Vì quyền lợi của trẻ, khi cần thiết các đương sự được quyền xin thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung: Không có.

4. Về nợ chung: Không có.

5. Án phí: Bà Nguyễn Thị P phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí bà P đã nộp 300.000đồng theo biên lai thu số AA/2016/0010306 ngày 26/6/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà P đã nộp đủ án phí.

6. Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị P và ông Đoàn Văn N có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ