- Tranh chấp gì? án hành chính — "Nguyễn Thị Mỹ C - UBND TP. P"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Mỹ C; Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 77/2024/HC-ST ngày 10/5/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang;
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 241 Luật Tố tụng hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 604/2025/HC-PT Ngày 19 tháng 5 năm 2025 “V/v Khiếu kiện quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả trong lĩnh vực đất đai” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Công
Các thẩm phán:
Ông Đặng Văn Ý
Bà Đinh Ngọc Thu Hương
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Hải Đăng - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Ba Duy - Kiểm sát viên cao cấp.
Trong ngày 12 tháng 5 năm 2025 và ngày 19 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 113/2025/TLPT-HC ngày 14 tháng 02 năm 2025 về “Khiếu kiện quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả trong lĩnh vực đất đai”.
Do Bản án hành chính sơ thẩm số 77/2024/HC-ST ngày 10/5/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1247/2025/QĐPT-HC ngày 17 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Người khởi kiện: Bà Nguyễn Thị Mỹ C, sinh năm 1963 – Có mặt;
Trú: Ấp Gành Dầu, xã Gành Dầu, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Nguyễn Thị Mỹ C: Ông Trần Chi L, sinh năm 1975; Địa chỉ: Ấp 1, xã Hàng Vịnh, huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau – Có mặt;
2. Người bị kiện: Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang; Địa chỉ: Số 04, Đường 30/4, thị trấn Dương Đông, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang;
Người đại diện hợp pháp của người bị kiện: Ông Nguyễn Lê Quốc T – Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Phú Quốc (Văn bản ủy quyền số 498/GUQ-UBND ngày 06/11/2023) – Xin vắng mặt;
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện: Ông Nguyễn Văn H1, Phó Trưởng phòng Tư pháp thành phố Phú Quốc – Có mặt;
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Vườn Quốc gia Phú Quốc;
Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Văn T1, Giám đốc Vườn Quốc gia Phú Quốc – Xin vắng mặt;
Địa chỉ: Ấp Xóm Mới, xã Bãi Thơm, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang;
4. Người kháng cáo: Người khởi kiện bà Nguyễn Thị Mỹ C;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 25/8/2023, đơn khởi kiện bổ sung và lời khai tiếp theo, người khởi kiện bà Nguyễn Thị Mỹ C trình bày:
Năm 1994, gia đình bà khai khẩn diện tích 647.700 m2 tọa lạc tại Tổ 7, ấp Gành Dầu, xã Gành Dầu, thành phố Phú Quốc và làm nhà ở, đào ao nuôi cá, gia cầm, trồng cây đào, dừa, bạch đàn, tràm bông vàng... Đến năm 2000, ông Dũng là Phó Chủ tịch huyện Phú Quốc vận động gia đình bà ra ấp Bãi Dài sinh sống để thuận tiện cho các con đi học và tránh tai nạn xảy ra, gia đình bà chấp hành ra Bãi Dài sinh sống, được Nhà nước cấp nền tái định cư, nhưng vẫn tiếp tục chăm sóc hoa màu, cây trồng trên phần đất đã khai khẩn, sau này xảy ra cháy rừng, còn sót lại vài cây dào, tràm bông vàng thì gia đình bà tiếp tục chăm sóc và trồng thêm cây xoài. Sau này Kiểm lâm vào chặt phá hết thành quả lao động của gia đình bà, nhưng gia đình bà vẫn đeo bám, quản lý sử dụng đất.
Ủy ban nhân dân huyện Phú Quốc ban hành Quyết định số 1861/QĐ-UBND ngày 21/7/2008 thu hồi đất của gia đình bà diện tích 647.700 m2, gia đình bà khiếu nại nhưng đến nay vẫn chưa có kết quả.
Năm 2010, bà tiếp tục vào diện tích đất trên sử dụng 95,84 m2 để cất nhà, làm chuồng trại nuôi bò, gà và làm lồng nuôi cá. Ngày 22/9/2010, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Phú Quốc ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với bà về hành vi lấn chiếm đất Vườn Quốc gia Phú Quốc và cưỡng chế di dời tài sản của gia đình bà. Năm 2011 bà vào diện tích đất trên sử dụng 3.386 m2 để cất nhà, chăn nuôi, trồng cây. Ủy ban nhân dân huyện Phú Quốc ban hành Quyết định số 4748/QĐ-XPHC ngày 19/9/2011 xử phạt vi phạm hành chính đối với bà về hành vi lấn chiếm đất rừng trái phép tại Tiểu khu 76 phân khu phục hồi sinh thái Vườn Quốc gia Phú Quốc.
Ngày 22/12/2021, bà cất 01 căn nhà tiền chế, diện tích 114 m2 trên diện tích bị thu hồi 647.700 m2 để ở và sinh sống. Ngày 22/3/2023, cán bộ địa chính mời bà làm việc và lập Biên bản vi phạm hành chính đối với bà về hành vi chiếm đất nông nghiệp là đất rừng đặc dụng tại khu vực nông thôn. Trong Biên bản này bà có trình bày đất bà sử dụng từ năm 1994 và có chứng kiến của những người dân địa phương. Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Phú Quốc ban hành Quyết định số 4378/QĐ-KPHQ ngày 14/8/2023 (Sau đây viết tắt là Quyết định số 4378) buộc bà thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả, trả lại đất cho Vườn Quốc gia Phú Quốc và ban hành Quyết định số 5280/QĐ-CCXP ngày 23/10/2023 (Sau đây viết tắt là Quyết định số 5280) cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả.
Bà Nguyễn Thị Mỹ C khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết hủy Quyết định số 4378 và hủy Quyết định số 5280.
Tại Văn bản số 111/UBND-NCPC ngày 18/01/2024 cùng các lời khai tiếp theo, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Phú Quốc trình bày:
Ngày 22/3/2023, Công chức Địa chính – Xây dựng Ủy ban nhân dân xã Gành Dầu phối hợp cơ quan có liên quan tiến hành đo đạc, kiểm tra diện tích 114 m2 do bà Nguyễn Thị Mỹ C chiếm của Vườn Quốc gia Phú Quốc. Tại Biên bản làm việc số 52/BB-LV ngày 22/3/2023 thì bà Nguyễn Thị Mỹ C trình bày: “…Hiện tại tôi chỉ có đơn xin xác nhận ngày 29/6/2010 và ngày 30/6/2010 được Trưởng ấp xác nhận ngoài ra tôi không có giấy tờ gì liên quan đến thửa đất mục đích của tôi cất nhà để sinh sống mua bán, thửa đất tôi sinh sống tôi không biết là đất rừng đặc dụng. Ngày 22/12/2021 tôi mới cất 01 căn nhà sinh sống đến nay…”. Căn cứ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DD 337137 ngày 25/3/2022 của Vườn Quốc Gia Phú Quốc thì diện tích bà C sử dụng là không hợp pháp, nên Ủy ban nhân dân xã Gành Dầu lập Biên bản vi phạm hành chính ngày 22/3/2023 đối với bà Nguyễn Thị Mỹ C với hành vi vi phạm chiếm đất nông nghiệp thuộc loại đất rừng đặc dụng tại khu vực nông thôn, diện tích vi phạm là 114 m2. Hình thức chiếm đất để xây dựng 01 căn nhà kết cấu: Khung sắt, mái tol, nền đất, vách tol + ván ép, vi phạm quy định tại điểm a khoản 3 Điều 14 Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.
Sau khi xem xét Công văn số 422/VQG-PQLBV&PTR ngày 20/7/2023 của Vườn Quốc gia Phú Quốc và Tờ trình số 162/TTr-UBND ngày 26/7/2023 của Ủy ban nhân dân xã Gành Dầu, vào ngày 14/8/2023 Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Phú Quốc ban hành Quyết định số 4378 buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đối với bà C. Do bà C không thực hiện Quyết định số 4378 nên Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Phú Quốc ban hành Quyết định số 5280 cưỡng chế thực hiện Quyết định số 4378.
Ủy ban nhân dân thành phố Phú Quốc không đồng ý yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Mỹ C.
Tại Công văn số 180/VQG-DLST&CHSV ngày 08/4/2024 của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Vườn Quốc gia Phú Quốc trình bày:
Diện tích 114 m2 bà C chiếm là thuộc đất của Vườn Quốc gia Phú Quốc quản lý theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Vườn Quốc gia Phú Quốc số DD 337137 ngày 25/3/2022; Quyết định số 91/2001/QĐ-TTg ngày 08/6/2001 của Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 48/2002/QĐ-UB ngày 08/7/2002 và Quyết định số 794/QĐ-UBND ngày 25/3/2022 của Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang. Do đó đề nghị bác yêu cầu khởi kiện của bà C.
Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 77/2024/HC-ST ngày 10/5/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang đã quyết định:
Căn cứ các điều: 30, 32, 116, 158, 164, 193, 194 của Luật Tố tụng hành chính; Khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 38, Điều 58, Điều 65, Điều 66, Điều 85, Điều 86, Điều 87 Luật xử lý vi phạm hành chính; Khoản 2 Điều 3, Điều 14, Điều 38, Điều 40 Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.
Tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Mỹ C về việc yêu cầu hủy Quyết định số 4378/QĐ-KPHQ ngày 14/8/2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang về việc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả trong lĩnh vực quản lý đất đai và Quyết định số 5280/QĐ-CCXP ngày 23/10/2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Phú Quốc về cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đối với bà Nguyễn Thị Mỹ C.
Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí hành chính sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 20/5/2024, bà Nguyễn Thị Mỹ C có đơn kháng cáo yêu cầu sửa Bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay:
Bà Nguyễn Thị Mỹ C giữ nguyên kháng cáo yêu cầu sửa Bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà. Bà đồng ý với lời trình bày của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Nguyễn Thị Mỹ C đề nghị xem xét vào năm 1992-1995 gia đình bà C đã khai phá, sử dụng diện tích 647.700 m2, đến ngày 21/7/2008 thì Ủy ban nhân dân huyện Phú Quốc ban hành Quyết định số 1861 thu hồi diện tích đất trên của gia đình bà C. Các xác nhận của Trưởng ấp về thời điểm gia đình bà C quản lý sử dụng đất được lập từ năm 2010, là trước 13 năm, không phải là mới lập ra để đối phó. Vườn Quốc gia Phú Quốc được giao đất theo Quyết định số 2163/QĐ-UB ngày 18/6/1998 của Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang trong khi gia đình bà C đã quản lý sử dụng đất từ năm 1992-1995 là trước khi đất được giao cho Vườn Quốc gia Phú Quốc. Ủy ban nhân dân huyện Phú Quốc thu hồi đất nhưng lại không ban hành quyết định bồi thường, hỗ trợ do thu hồi đất làm ảnh hưởng đến quyền lợi của gia đình bà C. Bản án sơ thẩm có các vi phạm tố tụng như sau: Căn nhà là tài sản chung của vợ chồng nhưng không đưa ông H là chồng bà C vào tham gia tố tụng làm ảnh hưởng đến quyền lợi của ông H; không xem xét thẩm định tại chỗ để xác định diện tích 114 m2 nằm ngoài hay nằm trong đất của Vườn Quốc gia Phú Quốc, vì hiện trạng diện tích 114 m2 có một phần cặp đường lộ, phần còn lại bị bao quanh bởi khu vui chơi của Công ty Cổ phần Đầu tư Phát triển Du lịch Phú Quốc nên không thể nằm trong đất của Vườn Quốc gia Phú Quốc, đồng thời cấp sơ thẩm cũng không đề cập giải quyết đối với các quyết định có liên quan (quyết định thu hồi đất và chưa bồi thường do thu hồi đất) là không đúng tố tụng. Đề nghị hủy Bản án sơ thẩm để xét xử sơ thẩm lại.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Phú Quốc không đồng ý kháng cáo của bà C. Qua đối chiếu tọa độ thì diện tích 114 m2 thuộc đất của Vườn Quốc gia Phú Quốc đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tại khu vực này hiện nay rất phức tạp, nhiều người dân chiếm đất của Vườn Quốc gia Phú Quốc để cất nhà rồi sang bán lại lòng vòng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến Hội đồng xét xử và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Luật tố tụng hành chính; Đơn kháng cáo hợp lệ. Về nội dung: Cấp sơ thẩm không đưa ông H là chồng của bà C vào tham gia tố tụng, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của ông H và không xem xét thẩm định tại chỗ nên không xác định được diện tích 114 m2 nằm ngoài hay nằm trong đất của Vườn Quốc gia Phú Quốc. Đề nghị hủy Bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại sơ thẩm.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ NHẬN ĐỊNH:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị Mỹ C đảm bảo hình thức, thời hạn, đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Phiên tòa được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, các đương sự vắng mặt đều có văn bản yêu cầu xét xử vắng mặt, nên theo quy định tại Điều 225 Luật tố tụng hành chính, việc xét xử phúc thẩm vẫn được tiến hành.
[2] Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định về đối tượng khởi kiện, thời hiệu khởi kiện, thẩm quyền giải quyết vụ án là đúng quy định tại các điều 30, 32, 116 Luật tố tụng hành chính năm 2015;
[3] Xét thẩm quyền, trình tự, thủ tục ban hành Quyết định số 4378 và Quyết định số 5280:
Quyết định số 4378 được ban hành đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 38, Điều 58, Điều 65 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 38 và Điều 40 Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai;
Quyết định số 5280 được ban hành đúng theo quy định tại Điều 86 và Điều 87 Luật xử lý vi phạm hành chính;
[4] Về nội dung của Quyết định số 4378 và Quyết định số 5280:
Ngày 29/3/2008 và ngày 24/4/2008, ông Trần Trung H (chồng bà Nguyễn Thị Mỹ C) cùng nhiều người khác vào đất của Vườn Quốc gia cuốc mô trồng đào diện tích 647.700 m2 thì bị phát hiện. Ngày 25/4/2008, Hạt kiểm lâm phối hợp chính quyền địa phương tổ chức di dời toàn bộ cây trồng, các hạt giống của ông H ra khỏi diện tích vi phạm.
Ngày 10/6/2008, Ủy ban nhân dân huyện Phú Quốc ban hành Quyết định số 1236/QĐ-XPHC xử phạt hành chính đối với ông Trần Trung H (chồng bà Nguyễn Thị Mỹ C) do có hành vi chiếm đất của Vườn Quốc gia Phú Quốc, diện tích 647.700 m2 và ban hành Quyết định số 1861/QĐ-UBND ngày 21/7/2008 thu hồi đất đối với ông H, diện tích 647.700 m2.
Năm 2011, bà Nguyễn Thị Mỹ C vào vị trí đất ông H bị xử phạt năm 2008 để cất nhà, trồng cây, chăn nuôi trên diện tích 3.386 m2 thì Ủy ban nhân dân huyện Phú Quốc ban hành Quyết định số 4748/QĐ-XPHC ngày 19/9/2011 xử phạt hành chính đối với bà Nguyễn Thị Mỹ C do có hành vi chiếm đất của Vườn Quốc gia Phú Quốc, diện tích 3.386 m2 và ban hành Quyết định số 4077/QĐ-CC ngày 16/11/2011 cưỡng chế thực hiện Quyết định số 4748/QĐ-XPHC ngày 19/9/2011.
Năm 2021, bà Mỹ C trở vào diện tích mà bà đã bị xử phạt hành chính năm 2010 để cất 01 căn nhà tiền chế diện tích 114 m2 thuộc Tiểu khu 60 Phân khu phục hồi sinh thái Vườn Quốc gia Phú Quốc, thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DD 337137 cấp ngày 25/3/2022 của Vườn Quốc gia Phú Quốc được cấp theo Quyết định số 91/2001/QĐ-TTg ngày 08/6/2001 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 48/2002/QĐ-UB ngày 08/7/2002 của Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang.
Bà Nguyễn Thị Mỹ C không có chứng cứ chứng minh phần diện tích 114 m2 thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà, trái lại tại vị trí này bà và chồng của bà đã nhiều lần bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đất của Vườn Quốc gia Phú Quốc.
Ủy ban nhân dân xã Gành Dầu lập Biên bản vi phạm hành chính số 53/BB-VPHC ngày 22/3/2023 đối với bà Nguyễn Thị Mỹ C do có hành vi chiếm đất nông nghiệp là đất rừng đặc dụng tại khu vực nông thôn, diện tích 114 m2. Ủy ban nhân dân thành phố Phú Quốc ban hành Quyết định số 4378/QĐ-KPHQ ngày 14/8/2023 buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đối với bà Nguyễn Thị Mỹ C phải khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm và buộc trả lại diện tích đất 114 m2 và ban hành Quyết định số 5280/QĐ-CCXP ngày 23/10/2023 cưỡng chế thực hiện Quyết định số 4378/QĐ-KPHQ ngày 14/8/2023 là đúng quy định của pháp luật.
Do đó, Bản án sơ thẩm đã bác yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Mỹ C là có căn cứ.
[4] Biên bản kiểm tra và Sơ đồ vị trí (bút lục số 55 đến 59), Sơ đồ vị trí đính kèm Công văn số 180/VQG-DLST&CHSV ngày 08/4/2024 của Vườn Quốc gia Phú Quốc (bút lục số 84) và Biên bản số 53/BB-VPHC ngày 22/3/2023 (bút lục số 46 đến 48) đã thể hiện rõ diện tích 114 m2 bà Nguyễn Thị Mỹ C đã cất nhà tiền chế thuộc Tiểu khu 60 Phân khu phục hồi sinh thái Vườn Quốc gia Phú Quốc, thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DD 337137 cấp ngày 25/3/2022 của Vườn Quốc gia Phú Quốc. Do đó, không nhất thiết phải thực hiện việc xem xét, thẩm định tại chỗ; Đồng thời, bà Nguyễn Thị Mỹ C không có Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà đối với căn nhà tiền chế trên diện tích 114 m2, nên không có cơ sở để xác định ông Trần Trung H là đồng sở hữu nhà. Vì vậy, không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Mỹ C và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị hủy Bản án sơ thẩm do vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng vì không đưa chồng của bà Nguyễn Thị Mỹ C là ông Trần Trung H tham gia tố tụng và không thực hiện việc xem xét, thẩm định tại chỗ.
[5] Từ các phân tích trên, không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Mỹ C, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
[6] Bà Nguyễn Thị Mỹ C là người cao tuổi nên được miễn án phí hành chính phúc thẩm.
[7] Quyết định của bản án sơ thẩm về án phí hành chính sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 241 của Luật Tố tụng hành chính; Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
2. Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Mỹ C; Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 77/2024/HC-ST ngày 10/5/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang;
Không chấp nhận khởi kiện của bà Nguyễn Thị Mỹ C yêu cầu hủy Quyết định số 4378/QĐ-KPHQ ngày 14/8/2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả và Quyết định số 5280/QĐ-CCXP ngày 23/10/2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Phú Quốc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đối với bà Nguyễn Thị Mỹ C.
3. Bà Nguyễn Thị Mỹ C được miễn án phí hành chính phúc thẩm và được hoàn trả tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu tiền số 0006340 ngày 12/6/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang.
4. Quyết định của bản án sơ thẩm về án phí hành chính sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - VKSND cấp cao tại TP.HCM; - Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang; - VKSND tỉnh Kiên Giang; - Cục THADS tỉnh Kiên Giang; - Các đương sự; - Lưu: HS, VP – NTHN. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Công |