- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Phùng Văn Thành phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phùng Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 603/2022/HS-ST Ngày: 28/12/2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thanh Nhàn
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Chu Văn Hùng
2. Bà Nguyễn Thị Kim Loan
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Phùng Thị Kim Oanh – Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 12 năm 2022, tại hội trường Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 585/2022/TLST-HS ngày 25 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 564/2022/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 12 năm 2022, đối với bị cáo:
Họ và tên: Phùng Văn T; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 02 tháng 5 năm 1994, tại Tuyên Quang; Nơi cư trú: Thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nơi ở hiện tại: Xóm T, xã Hóa T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Dao; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 05/12; Nghề nghiệp: Tự do; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Con ông: Phùng Văn L, sinh năm 1962; Con bà: Ma Thị Q, đã chết; Gia đình có 06 anh em, bị cáo là con thứ 04; Vợ: Nguyễn Thị M, sinh năm 1997 (Đã ly hôn); Có 02 con, lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2017.
- Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.
Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên (bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/9/2022 đến nay).
(có mặt tại phiên tòa)
Người chứng kiến: Anh Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1988 (vắng mặt)
Nơi thường trú: Tổ 5, phường P, TP. Thái Nguyên, Thái Nguyên
1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 12 giờ 20 phút ngày 28/9/2022, tổ công tác của Công an phường P, thành phố Thái Nguyên làm nhiệm vụ tại khu vực đường Nguyễn Đình Chiểu đoạn thuộc tổ 12 của phường thì phát hiện 01 nam thanh niên đang đi bộ có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra, nam thanh niên khai tên là Phùng Văn T, đồng thời tự giác lấy ra từ túi quần phía trước bên phải 01 gói giấy màu vàng bên trong chứa chất bột màu trắng giao nộp cho tổ công tác. Thành khai chất bột màu trắng đó là Heroine mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Thành, thu giữ vật chứng theo quy định.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng: Số chất bột màu trắng thu giữ của Phùng Văn T có khối lượng 0,233 gam, lấy toàn bộ số bột màu trắng trên đưa vào bì niêm phong ký hiệu T1 gửi giám định.
Tại Kết luận giám định số 1557/KL-KTHS ngày 06/10/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu T1 gửi giám định là chất ma tuý, loại Heroine, khối lượng thu giữ ban đầu là 0,233 gam
Tại Cơ quan điều tra, Phùng Văn T khai nhận: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 28/9/2022, Thành đi xe buýt từ khu vực đường tròn Chùa Hang, thành phố Thái Nguyên đến khu vực đầu cầu Gia Bẩy thuộc phường Đồng Bẩm, thành phố Thái Nguyên để mua Heroine sử dụng cho bản thân. Tại đây, Thành gặp và mua của 01 người đàn ông không quen biết 01 gói Heroine được gói bằng giấy màu vàng với giá 400.000 đồng. Mua xong, Thành cầm gói Heroine cho vào trong túi quần phía trước bên phải đang mặc rồi đi bộ tìm nơi để sử dụng. Khi Thành đi đến khu vực trường tiểu học Nguyễn Huệ đoạn thuộc tổ 12, phường P thì bị tổ công tác của Công an phường P, thành phố Thái Nguyên bắt quả tang như nêu trên.
Lời khai nhận của Phùng Văn T phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Vật chứng của vụ án: 02 bì niêm phong kí hiệu T1, T2 chứa ma túy hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu.
Hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên chờ xử lý.
Bản cáo trạng số 577/CT-VKSPB, ngày 22/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên truy tố Phùng Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xác định Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố bị cáo là đúng người đúng tội.
2
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên luận tội bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt từ 21 đến 24 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 02 bì niêm phong ký hiệu T1, T2 bên trong chứa ma tuý hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu.
Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của UBTVQH 14 buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Tại lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về thủ tục tố tụng:
Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thái Nguyên, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Lời khai của Phùng Văn T tại phiên tòa là khách quan, phù hợp với các lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có căn cứ xác định:
Hồi 12 giờ 20 phút ngày 28/9/2022, tại khu vực tổ 12, phường P, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, Phùng Văn T có hành vi tàng trữ trái phép 0,233 gam chất ma túy, loại Heroine, mục đích sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác của Công an phường P, thành phố Thái Nguyên phát hiện, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng.
Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Nội dung điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) ...
3
...
c) Heroine .. có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.”
Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo có nhân thân tốt. Tính chất mức độ của hành vi phạm tội là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi ma túy hủy hoại sức khỏe con người, là nguyên nhân phát sinh tội phạm và các tệ nạn xã hội khác, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước.Việc đưa ra xét xử đối với bị cáo là cần thiết để răn đe phòng ngừa tội phạm chung.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Do đó, bị cáo được hưởng một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Phùng Văn T không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
[4] Về hình phạt: Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai trò, cũng như nhân thân của bị cáo thì thấy rằng cần có có mức án nghiêm khắc để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, đảm bảo tính chất ngăn ngừa tội phạm nói chung và các tội phạm về ma túy nói riêng. Xét thấy mức hình phạt từ 21 đến 24 tháng tù mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên đề nghị khi luận tội là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, công việc và thu nhập không ổn định, không có tài sản gì để đảm bảo thi hành do đó không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy: 02 bì niêm phong ký hiệu T1, T2 bên trong chứa ma tuý hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu.
Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước. Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Về nguồn gốc số Heroine bị thu giữ Phùng Văn T khai mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực cầu Gia Bẩy thuộc phường Đồng Bẩm, thành phố Thái Nguyên. Quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên không có cơ sở làm rõ để xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Phùng Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự:
4
1. Xử phạt: Phùng Văn T 21 (hai mươi mốt) tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 28/9/2022.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Áp dụng Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tạm giam bị cáo 45(bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy:
- 01 bì niêm phong ký hiệu T1 (hoàn trả 0,216 gam mẫu T1 và vỏ bao gói mẫu T1), mặt sau phong bì có 02 dấu tròn đỏ của Phòng KTHS Công an tỉnh Thái Nguyên cùng chữ ký của Nguyễn Thành Trung, Mai Tố Uyên;
- 01 bì niêm phong ký hiệu T2, mặt sau phong bì có 03 dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT Công an TP Thái Nguyên cùng chữ ký của Nguyễn Ngọc T, Phùng Văn T, lương Văn Mạnh, Trần Văn Hoè, Nguyễn Thị Huyền Trang, Chu Đức Anh.
(Đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng số 162 ngày 29/11/2022 giữa Công an thành phố Thái Nguyên và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên.
3.Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/QH ngày 30/12/2016 quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Phùng Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí HSST nộp ngân sách nhà nước.
Án xét xử sơ thẩm công khai. Báo cho bị cáo Phùng Văn T biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:
TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Thái Nguyên;
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
- VKSND tỉnh Thái Nguyên;
- VKSND TP Thái Nguyên;
- CCTHADS TP Thái Nguyên;
- Công an TP Thái Nguyên;
- Sở tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
- Bị cáo;
- Hồ sơ vụ án;
Đỗ Thị Thanh Nhàn
- Lưu.
5
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Thị Thanh Nhàn
6
Nơi nhận:
TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Thái Nguyên;
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
- VKSND tỉnh Thái Nguyên;
- VKSND TP Thái Nguyên;
- CCTHADS TP Thái Nguyên;
- Công an TP Thái Nguyên;
- Sở tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
- Bị cáo;
- Hồ sơ vụ án;
Đỗ Thị Thanh Nhàn
- Lưu.
7
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Thị Thanh Nhàn
8
Nơi nhận:
TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Thái Nguyên;
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
- VKSND tỉnh Thái Nguyên;
- VKSND TP Thái Nguyên;
- CCTHADS TP Thái Nguyên;
- Công an TP Thái Nguyên;
- Sở tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
- Bị cáo;
- Hồ sơ vụ án;
Đỗ Thị Thanh Nhàn
- Lưu.
9
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Thái Nguyên;
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- VKS ND tỉnh Thái Nguyên;
- VKS ND TP. Thái Nguyên;
- Cơ quan điều tra CA TP. Thái Nguyên;
- CQTHAHS Công an TP. Thái Nguyên;
- CC T.H.A DS TP. Thái Nguyên;
- Bị cáo;
Đỗ Thị Thanh Nhàn
- Lưu: HS, VP, T.H.A HS./.
10
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Thị Thanh Nhàn
11
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Thái Nguyên;
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- VKS ND tỉnh Thái Nguyên;
- VKS ND TP. Thái Nguyên;
- Cơ quan điều tra CA TP. Thái Nguyên;
- CQTHAHS Công an TP. Thái Nguyên;
- CC T.H.A DS TP. Thái Nguyên;
- Bị cáo;
Đỗ Thị Thanh Nhàn
- Lưu: HS, VP, T.H.A HS./. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Thị Thanh Nhàn
12
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Thái Nguyên;
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- VKS ND tỉnh Thái Nguyên;
- VKS ND TP. Thái Nguyên;
- Cơ quan điều tra CA TP. Thái Nguyên;
- CQTHAHS Công an TP. Thái Nguyên;
- CC T.H.A DS TP. Thái Nguyên;
- Bị cáo;
- Lưu: HS, VP, T.H.A HS./.
Đỗ Thị Thanh Nhàn
13
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Thị Thanh Nhàn
14
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thái Nguyên; - VKS ND tỉnh Thái Nguyên; - VKS ND TP. Thái Nguyên; - Cơ quan điều tra CA TP. Thái Nguyên; - CQTHAHS Công an TP. Thái Nguyên; - CC T.H.A DS TP. Thái Nguyên; - Bị cáo; - Lưu: HS, VP, T.H.A HS./. 15 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đỗ Thị Thanh Nhàn |