- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 603/2019/HS-ST Ngày 25-12-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA– TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phú
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Công Danh
2. Ông Nguyễn Thái Hòa
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Quang Minh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòaiên Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòaiên Hòa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh – Kiểm sát viên.
Trong ngày 25 tháng 12 năm 2019, tại Hội trường Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 575/2019/TLST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 601/2019/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 12 năm 2019 đối với bị cáo:
Nguyễn Ngọc T (tên gọi khác: không), sinh năm 1979, tại Đà Nẵng; Nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: 373/44, tổ 40, khu phố 5A, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 9/12; Con ông Nguyễn Văn Th và bà Nguyễn Thị T. Vợ tên Hoàng Thị C, có 02 con, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2013; Gia đình có 05 chị em, bị cáo là con 03 trong gia đình.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Ngày 20/3/2003, bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự 1999 (Bản án số 88/HSST ngày 20/3/2003).
- Ngày 07/4/2009, bị Tòa án nhân dân huyện Long Thành xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự 1999 (Bản án số 96/2009/HSST ngày 07/4/2009).
- Ngày 22/4/2014, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự 1999 (Bản án số 208/2009/HSST ngày 22/4/2014).
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/8/2019; sau đó, chuyển tạm giam từ ngày 23-8-2019 đến nay tại Nhà Tạm giữ – Công an thành phố Biên Hòa; có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Ngọc T là người sử dụng trái phép chất ma túy. Vào khoảng 01 giờ ngày 14/8/2019, T gọi điện cho đối tượng tên Ngọc (không rõ lai lịch) nhờ mua ma túy để sử dụng, Ngọc đồng ý. Sau đó, T đi đến khu vực chợ Tân Vạn thuộc phường Tân Vạn, thành phố Biên Hòa gặp và đưa cho Ngọc số tiền 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng) để mua ma túy, Ngọc cầm tiền đi mua ma túy. Khoảng 25 phút sau, Ngọc quay lại đưa cho T 01 gói ma túy. T sử dụng hết một phần, phần còn lại T cất giấu vào túi quần phía trước bên phải T đang mặc. Đến khoảng 03 giờ 30 cùng ngày, khi T đang đi trên đường Bùi Văn Hòa thuộc tổ 1, khu phố 3A, phường Long Bình Tân, thành phố Biên Hòa, thì bị Công an phường Long Bình Tân kiểm tra, phát hiện bắt quả tang cùng tang vật. Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Ngọc T khai nhận hành vi phạm tội như trên.
Vật chứng thu giữ:
- 01 (một) gói nilon màu trắng kích thước 05x05cm, bên trong có chứa tinh thể màu trắng đã được niêm phong, có chữ ký của Nguyễn Ngọc T và hình dấu mộc tròn của Công an phường L Tân.
- 01 ống nhựa là dụng cụ sử dụng ma túy.
Tại Kết luận giám định số 915/PC09-GĐMT ngày 23/8/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai đã kết luận: “Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,3458 gam, loại: Methamphetamine”.
Bản cáo trạng số: 576/CT-VKSBH-HS ngày 21 tháng 11 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa phát biểu luận tội vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T từ 02 năm – 02 năm 06 tháng tù; xử lý vật chứng và buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Tại phiên tòa bị cáo trình bày: bị cáo thống nhất với hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố, không có ý kiến gì đối với kết luận giám định.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Biên Hòa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ và đầy đủ. Quá trình điều tra bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu có tại hồ sơ như biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, bản kết luận giám định. Đã có đủ cơ sở kết luận:
Nguyễn Ngọc T là đối tượng nghiện ma túy. Vào lúc 03 giờ 30 phút ngày 14/8/2019, tại đường Bùi Văn Hòa thuộc tổ 1, khu phố 3A, phường Long Bình Tân, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Ngọc T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,3458 gam ma túy, loại Methamphetamine thì bị Công an phường Long Bình Tân phát hiện, bắt quả tang.
Như vậy, bị cáo Nguyễn Ngọc T đã có hành vi tàng trữ Methamphetamine, đây là chất ma túy nằm trong danh mục các chất cấm theo quy định của Chính phủ. Hành vi của bị cáo Nguyễn Ngọc T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố và viện dẫn.
Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự, trị an và an ninh xã hội, xâm phạm đến chính sách của Nhà nước Việt Nam về đấu tranh phòng ngừa và loại bỏ ma túy ra khỏi cuộc sống xã hội. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Nguyễn Ngọc T có nhân thân xấu (đã bị xét xử về các tội “Mua bán trái phép chất ma túy” vào năm 2003, “Trộm cắp tài sản” vào các năm 2009 và năm 2014) nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân, nay lại tiếp tục phạm tội nên cần xem xét mức hình phạt tương xứng nhằm mục đích răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Đối với đối tượng tên Ngọc (chưa rõ lai lịch) có hành vi mua bán ma túy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau là đúng quy định.
Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: tịch thu tiêu hủy toàn bộ lượng ma túy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa thu giữ sau giám định và 01 ống nhựa là dụng cụ sử dụng ma túy.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Nhận định về phần trình bày của Kiểm sát viên, bị cáo tại phiên tòa:
- Đối với phần trình bày của Kiểm sát viên: về tội danh truy tố và mức hình phạt đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp nên được chấp nhận.
- Đối với phần trình bày của bị cáo sẽ được Hội đồng xét xử xem xét khi giải quyết vụ án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T 02 (hai) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày bị tạm giữ 14-8-2019.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy số lượng ma túy còn lại sau giám định.
- Tịch thu tiêu hủy 01 ống nhựa là dụng cụ sử dụng ma túy.
(Tất cả các vật chứng nêu trên được thể hiện tại Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 17/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Ngọc T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí.
4. Quyền kháng cáo:
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai; - Cơ quan Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy – Công an thành phố Biên Hòa; - Cơ quan Thi hành án hình sự – Công an thành phố Biên Hòa; - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa; - Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai; - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai; - Lưu: Hồ sơ vụ án, Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Phú |