- Tranh chấp gì? "tàng trữ trái phép chất ma túy. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| Toµ ¸n nh©n d©n HuyÖn hoµi ®øc - hµ néi --------- | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| B¶n ¸n sè: 60/2018/HSST Ngµy: 24/07/2018 N íc céng hoµ x· héi chñ nghÜa viÖt nam Toµ ¸n nh©n d©n huyÖn hoµi ®øc - TP hµ néi Víi thµnh phÇn Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm gåm cã ThÈm ph¸n-Chñ to¹ phiªn toµ: C¸c héi thÈm nh©n d©n: 1. Ông Nguyễn Văn H 2. Bà Đào Thị X Th ký phiªn toµ: ¤ng Ph¹m Nh Hoµng H §¹i diÖn ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n huyÖn HĐtham gia phiªn toµ: Bµ NguyÔn ThÞ BÝch D, KSV xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 63/2018/HSST ngày 03 tháng 07 năm 2018 đối với bị cáo: huyện ĐP, TP. H Nội. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa. 9/12. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Con ông: Nguyễn Đăng Ph (Đã chết). Con bà: Nguyễn Thị L, Sinh năm 1955. Vợ: Nguyễn Thị H, Sinh năm 1983. Con: Bị can có 02 con, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2013. Tiền án: Ngày 28/6/2016, Tòa án nhân dân quận BTL, TP. H Nội xử phạt 06 tháng tù giam về tội: Gây rối trật tự công cộng. Chấp Hnh xong về địa phương ngày QĐ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh số 4161/QĐ- UBND trong thời hạn 24 tháng về Hnh vi: Sử dụng trái phép chất ma túy, đến ngày 14/10/2015 về địa phương quản lý sau cai tại địa phương trong thời hạn 24 tháng. Bị can bị bắt phố H Nội. (có mặt) | Ngày 24 tháng 07 năm 2018 tại Tòa án nhân dân huyện HĐ, TP H Nội |
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 15 giờ ngày 31/3/2018, khi Nguyễn Đăng Chinh Ch nhận được điện thoại của một người phụ nữ tên là T (là người quen của Ch nhưng Ch không rõ tên tuổi địa chỉ cụ thể) hẹn Ch ra trước cửa nH nghỉ Phố Mới ở ven đường Quốc lộ 32 thuộc khu 6, thị trấn TT, huyện HĐ, tHnh phố H Nội để T đưa tiền cho Ch đi mua ma túy về cùng sử dụng. Ch đồng ý và điều khiển xe máy BKS: 29V5-044.02 đi đến khu vực ven đường Quốc lộ 32 thuộc khu 6, thị trấn TT, HĐ, H Nội gặp T. Tại đây, T đưa cho Ch 450.000đ (Bốn trăm năm mươi nghìn đồng) và bảo Ch đi mua ma túy đá rồi mang về nH nghỉ Phố Mới ở khu 6, thị trấn TT, HĐ, H Nội để cùng T sử dụng ma túy. Ch cầm tiền rồi một mình điều khiển xe máy đến khu vực đường bê tông thuộc thôn YV, KC, HĐ, H Nội thì gặp một người phụ nữ tên là H (Ch không rõ tên tuổi địa chỉ cụ thể) hỏi và mua được của người phụ nữ này 01 túi ma túy đá với giá 450.000đ (Bốn trăm năm mươi nghìn đồng). Đến khoảng 16 giờ 10 phút cùng ngày, khi Nguyễn Đăng Chinh Ch đi vào khu vực để xe của NH nghỉ Phố Mới thuộc khu 6, thị trấn TT thì lực lượng công an huyện HĐ kiểm tra phát hiện bắt quả tang và thu giữ toàn bộ tang vật.
Tại kết luận giám định số 3337/KLGĐ-PC54 ngày 09/4/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tHnh phố H Nội kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong 01 gói nilông thu giữ của Nguyễn Đăng Chinh Ch gửi giám định có khối lượng: 0,244 gam, là ma túy Methamphetamine.
Đối với chiếc xe máy mang biển kiểm soát 29V5-044.02 loại PIAGIO nhãn hiệu LIBERTI, số máy M371M4078060, số khung: 017487, Ch khai là mượn của em gái tên là Nguyễn Thị Bích Ph, chồng là Cao Văn Thực. Cơ quan CSĐT Công an huyện HĐ đã tiến Hnh điều tra xác minh, xác định chiếc xe máy trên là do chị Nguyễn Thị H mua trả góp vay vốn tại công ty Tài chính TNHH HD SAI SON thông qua hợp đồng hỗ trợ vay vốn ngân Hng. Đến khoảng tháng 12/2011 thì chồng chị H là anh Hoàng Minh Qu mang chiếc xe máy trên đi cầm đồ cho Cao Văn Thực để lấy số tiền 30 triệu đồng. Đến tháng 2/2018 thì chị Nguyễn Thị Bích Ph có cho Nguyễn Đăng Chinh Ch mượn chiếc xe máy trên để sử dụng làm phương tiện đi lại, việc Ch sử dụng chiếc xe máy trên để đi mua ma túy chị Phương không được biết. Hiện tại chị Nguyễn Thị H vẫn đang nợ lại công ty HD SAISON số tiền 26.494.787 đồng. Công ty Tài chính TNHH HD SAI SON vẫn đang giữ bản gốc đăng ký xe và xin nhận lại chiếc xe trên, chị H cũng xin nhận lại xe. Do có sự tranh chấp về chủ sử dụng chiếc xe nên Công an huyện HĐ và Viện Kiểm sát huyện HĐ tiếp tục tạm giữ để làm rõ chuyển thẩm quyền. Đối với người phụ nữ tên T, tên H Ch khai đã đưa tiền và mua ma túy. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện HĐ đã tiến Hnh điều tra xác minh, tuy nhiên không có thông tin cụ thể nên chưa xác định được đó là đối tượng nào nên không có căn cứ để xử lý.
Tại bản cáo trạng số 64/CT-VKSHĐ ngày 02/7/2018 của Viện kiểm sát huyện HĐ đã truy tố Nguyễn Đặng Chinh Ch về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, ¸p dông điểm c kho¶n 1 ®iÒu 249 Bé luËt h×nh sù. Đề nghị HĐXX xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đăng Chinh Ch phạm téi Tàng trữ trái phép chất ma túy. ¸p dông điểm c kho¶n 1 ®iÒu 249; ®iÓm s kho¶n 1; ®iÒu 51, điểm h khoản 1 điều 52 Bé luËt h×nh sù năm 2015 söa ®æi bæ sung n¨m 2017. Đề nghị xö ph¹t: Nguyễn Đăng Chinh Ch 24 - 30 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về Hnh vi phạm tội của bị cáo: Nguyễn Đăng Chinh Ch là đối tượng nghiện chất ma túy, khoảng 15 giờ ngày 31/3/2018 Ch mua một gói ma túy đá của một người tên là H tại thôn YV, xã KC, huyện HĐ với giá 450.000đ để sử dụng. Đến 16 giờ 10 phút cùng ngày Ch đi đến nH nghỉ phố Mới, thị trấn TT để sử dụng thì bị Công an huyện HĐ bắt quả tang Ch đang tàng trữ ma túy. Tại kết luận giám định số 3337/KLGĐ-PC54 ngày 09/4/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tHnh phố H Nội kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong 01 gói nilông thu giữ của Nguyễn Đăng Chinh Ch gửi giám định có khối lượng: 0,244 gam, là ma túy Methamphetamine. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự. Hnh vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền về quản lý các chất ma tuý của NH nước. Bị cáo thực hiện với lỗi cố ý. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận Nguyễn Đăng Chinh Ch phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.
Đánh giá tính chất mức độ Hnh vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ thấy rằng. Tại phiên tòa bị cáo khai báo tHnh khẩn, ăn năn hối cải, đó là tính tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo phạm tội lần này là tái phạm theo điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự. Do vậy phải có hình phạt tù đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Một phong bì niêm phong dán kín của Công an tHnh phố H Nội mặt trước phong bì niêm phong ghi tên đối tượng Nguyễn Đăng Chinh Ch, sinh năm 1979, HKTT: Cụm 11, TL, ĐP, H Nội. Mặt sau tại các mép dán phong bì niêm phong còn nguyên vẹn chữ ký, họ tên của giám định viên Lê Khắc Nam và đối tượng Nguyễn Đặng Chinh Ch, cán bộ Cao Xuân Cường, ngày niêm phong 31/3/2018 là vật nH nước quản lý cấm lưu Hnh nên tịch thu tiêu hủy. 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO màu vàng có số IMEI 1 868791024713971, IMEI 2 868791024713963 (mặt kính bị dạn vỡ) là phương tiện bị cáo dụng vào việc phạm tội nên tịch thu phát mại sung quỹ NH Nước.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc trường hợp trả hồ sơ để điều tra bổ sung.
Những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập, bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều là chứng cứ hợp pháp.
Về tính hợp pháp của các Hnh vi, Qu định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Xét thấy điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng và đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật. Các Hnh vi, Qu định tố tụng đều hợp pháp, đảm bảo việc điều tra, truy tố vụ án đúng quy định.
Trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án phản ánh cũng như kết quả tranh tụng tại phiên tòa. HĐXX thấy không có dấu hiệu vi phạm nên không kiến nghị phòng ngừa tội phạm, khắc phục vi phạm.
Vì các lẽ trên,
QuyÕt ®Þnh
Về tội danh: Tuyªn bè bÞ c¸o Nguyễn Đăng Chinh Ch ph¹m téi tàng trữ trái phép chất ma túy.
Về điều luật áp dụng: Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249, điểm s khoản 1 điều 51, điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự.
Xö ph¹t: Nguyễn Đăng Chinh Ch 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tÝnh tõ ngµy b¾t tạm giữ, tạm giam 31/3/2018.
Xử lý vật chứng: ¸p dông ®iÒu 47 Bé luËt h×nh sù năm 2015 söa ®æi bæ sung n¨m 2017.
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong dán kín của Công an tHnh phố H Nội mặt trước phong bì niêm phong ghi tên đối tượng Nguyễn Đăng Chinh Ch, sinh năm 1979, HKTT: Cụm 11, TL, ĐP, H Nội. Mặt sau tại các mép dán phong bì niêm phong còn nguyên vẹn chữ ký, họ tên của giám định viên Lê Khắc Nam và đối tượng Nguyễn Đặng Chinh Ch, cán bộ Cao Xuân Cường, ngày niêm phong 31/3/2018. Tịch thu phát mại sung quỹ NH Nước 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO màu vàng có số IMEI 1 868791024713971, IMEI 2 868791024713963 (mặt kính bị dạn vỡ) theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Công an huyện HĐ với Chi cục thi Hnh án huyện HĐ ngày 04/7/2018).
VÒ ¸n phÝ: Áp dụng khoản 1, 2 điều 135; khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 điều 22 Nghị Qu số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Đăng Chinh Ch phải chịu 200.000đ án phí hình sự sở thẩm.
C¨n cø §iÒu 331, 333 cña Bé luËt tè tông h×nh sù:
BÞ c¸o ®ưîc quyÒn kh¸ng c¸o bản án này trong h¹n 15 ngµy kÓ tõ ngµy tuyªn ¸n sơ thẩm. Nơi gửi:
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM -Toà án TP H Nội
| -VKS huyện H Đức - Chi cục THADS huyện H Đức - Dán án - Lưu hồ sơ | Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Trương THnh Tr |