vanban.org

Bản án 60/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 7 - Lào Cai, tỉnh Lào Cai Tuyên án 20/08/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lý A V phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lý A V 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo là ngày 26/3/2026. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bản án HSST đối với bị cáo Lý A V - mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Điểm đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 - LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2026/HS-ST
Ngày 20/8/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Giàng Thị Thu Trang

Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Mai Thị Hoa

- Ông Hạng A Tủa

- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Hồng Hà – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 – Lào Cai, tỉnh Lào Cai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Lào Cai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Huyền Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 7 - Lào Cai xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 45/2026/TLST- HS ngày 09 tháng 7 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2026/QĐXXST - HS ngày 05 tháng 8 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 7 – Lào Cai đối với bị cáo:

Lý A V; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 20/6/1988 tại xã T, tỉnh L.

Nơi cư trú: Thôn N, xã T, tỉnh L; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Dao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;

Con ông Lý A M (sinh năm 1957) và con bà Tẩn Thị L (sinh năm 1973). Gia đình có ba anh chị em, bị cáo là con thứ hai. Bị cáo có vợ là Tẩn Thị T, sinh năm 1989 (đã ly hôn); Bị cáo có 01 con sinh năm 2010.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

Ngày 27/8/2018 Lý A V bị Công an huyện Bát Xát xử phạt số tiền 1.500.000 đồng về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy theo Quyết định số 29/QĐ-XPVPHC, đã chấp hành xong.

Ngày 14/4/2022 Lý A V bị Tòa án nhân dân huyện Bát Xát, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 12 tháng. Ngày 11/02/2023 đã chấp hành xong.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/8/2025. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh Lào Cai. Có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo Lý A V: Bà Đỗ Thị Lan Oanh – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lào Cai. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 23 giờ 00 ngày 26/3/2026, tại khu vực đường Hùng Vương, thuộc tổ 5 xã Bát Xát, tỉnh Lào Cai ( nay là thôn Bát Xát 3, xã Bát Xát). Công an xã Bát Xát bắt quả tang Lý A V đang có hành vi tàng trữ trái phép 02 gói nilon màu hồng, bên trong chứa chất bột khô màu trắng, vón cục (V khai nhận là heroine). Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lý A V, thu giữ, niêm phong toàn bộ vật chứng theo quy định. Lý A V khai nhận số ma túy V tàng trữ là do mua của Vừ A D để sử dụng.

Về nguồn gốc của ma túy: Khoảng 18 giờ 45 phút ngày 25/3/2026, Vừ A D đi xe ôm của một người đàn ông không quen biết từ thôn Dền Thàng, xã Dền Sáng xuống xã Bát Xát tìm mua ma túy để sử dụng. Khi đến khu vực ngã ba gần thủy điện Ngòi Phát thuộc thôn San Bang, xã Bát Xát thì xuống xe, tại đây Vừ A D gặp hỏi mua được của một người phụ nữ dân tộc Mông (không rõ nhân thân, lai lịch) 02 gói ma túy gói bằng nilon màu xanh với giá 200.000 đồng. Vừ A D cất giấu 02 gói ma túy vào trong túi áo ngực bên phải, sau đó đi bộ hướng về phía tỉnh lộ 156B, đi được khoảng 50m thì gặp Lý A V. Do biết Vừ A D cũng là người nghiện chất ma túy nên Lý A V hỏi có ma túy bán không, Vừ A D trả lời có ma túy bán. Lý A V đưa cho Vừ A D số tiền 300.000 đồng (gồm 03 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng), D cầm tiền và lấy từ trong túi áo ngực bên phải ra 01 gói ma túy gói bằng nilon màu xanh đưa cho Lý A V. Sau khi mua được ma túy, Lý A V cất gói ma túy vào trong túi quần bên phải và đi bộ ra đường tỉnh lộ 156B bắt xe ôm đi về lán công trình xây dựng thuộc thôn 3, xã Bát Xát, tỉnh Lào Cai. Ngày 27/3/2026, Cơ quan điều tra đã ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp và Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Vừ A D về hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Tiến hành khám xét khẩn cấp người và nơi ở của Lý A V, Vừ A D không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Ngày 27/3/2026 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lào Cai ra Quyết định số C654 trưng cầu giám định đối với vật chứng thu giữ của Lý A V.

Tại Kết luận giám định số C320 ngày 30/3/2026 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai kết luận: 0,39 gam chất bột khô, màu trắng, vón cục thu giữ của Lý A V là chất ma tuý, loại Heroine. Quá trình điều tra Lý A V, Vừ A D thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình:

Lý A V bị áp dụng biện pháp quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú trong thời hạn 02 năm, kể từ 11/02/2023 đến 11/02/2025 theo Quyết định quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú số 97/QQĐ-UBND của UBND xã Cốc Mỳ, huyện Bát Xát. Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, Lý A V đang trong thời hạn 02 năm kể từ ngày hết thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy, nhưng không trong thời hạn quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy. Do đó không đủ căn cứ để xử lý Lý A V về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự

Vừ A D chưa bị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc, không tham gia cai nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế Methadone, không phải là đối tượng quản lý sau cai nghiện theo Luật phòng, chống ma túy. Do vậy không xem xét xử lý hình sự đối với Vừ A D về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 256a Bộ luật hình sự.

Cáo trạng số 29/CT-VKS LCI- KV ngày 08/7/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Lào Cai truy tố:

Lý A V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Vừ A D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Ngày 05/8/2026 Vừ A D đã chết. Tòa án đã Đình chỉ vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 45/2026/TLST – HS ngày 09/7/2026 đối với bị cáo: Vừ A D sinh ngày 16/3/1972; Nơi cư trú: Thôn D, xã D, tỉnh L; Đối với bị cáo Lý A V. Tòa án tiến hành giải quyết, xét xử theo quy định của pháp luật.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Lào Cai giữ nguyên quyết định truy tố đối với Lý A V về tội danh như bản cáo trạng. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo. Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Tuyên bố bị cáo Lý A V phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Xử phạt bị cáo mức án từ 03 (ba) năm đến 03(ba) năm 06(sáu) tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tuyên tịch thu, tiêu hủy: 0,37 gam heroin còn lại sau trích mẫu giám định cùng 02 mảnh nilon màu hồng và toàn bộ bì niêm phong ban đầu đã được tái niêm phong trong 01 bì thư của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai. Trên một mặt của bì niêm phong có ghi: “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi bắt quả tang Lý A V tại thôn 5, xã Bát Xát, tỉnh Lào Cai ngày 26/03/2026. Các vật chứng trên hiện đang được lưu trữ, bảo quản tại kho vật chứng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Lào Cai.

Về án phí: Đề nghị áp dụng điểm đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn cho bị cáo Lý A V 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Tuyên quyền kháng cáo đối với bị cáo theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo Lý A V nhất trí với tội danh, Điều luật Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Lào Cai truy tố đối với bị cáo. Bị cáo Lý A V là người dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế khó khăn, trình độ hiểu biết pháp luật còn nhiều hạn chế, bản thân nghiện chất ma túy nên đã có hành vi tàng trữ 0,39 gam Heroine để sử dụng. Khi bị phát hiện bắt quả tang bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Lý A V mức án thấp nhất của khung hình phạt là 03 (ba) năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Đề nghị áp dụng điểm đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn cho bị cáo Lý A V 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa bị cáo Lý A V đồng ý với tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Lào Cai đã truy tố đối với bị cáo, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Lào Cai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đối với Vừ A D: Ngày 05/8/2026 bị cáo Vừ A D đã chết trong thời gian chuẩn bị xét xử theo quy định tại khoản 7 Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tòa án đã Đình chỉ vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 45/2026/TLST – HS ngày 09/7/2026 đối với bị cáo Vừ A D sinh ngày 16/3/1972; Nơi cư trú: Thôn D, xã D, tỉnh L;

Về hành vi phạm tội của bị cáo Lý A V: Ngày 26/3/2026, Lý A V đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,39 gam Heroine mục đích để sử dụng. Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như đã khai tại cơ quan điều tra. Lời khai nhận tội của bị cáo được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ khác như: Biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang, biên bản khám xét khẩn cấp, biên bản thu giữ và niêm phong vật chứng, biên bản thu giữ đồ vật tài liệu, bản Kết luận giám định số C320 ngày 30/3/2026 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Lào Cai truy tố bị cáo Lý A V về tội "Tàng trữ trái chất ma túy" theo quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do thiếu ý thức chấp hành pháp luật, bản thân nghiện chất ma túy nên bị cáo đã thực hiện hành vi "Tàng trữ trái chất ma túy". Vì vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu.

Ngày 27/8/2018 Lý A V bị Công an huyện Bát Xát xử phạt số tiền 1.500.000 đồng về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy theo Quyết định số 29/QĐ-XPVPHC, đã chấp hành xong.

Ngày 14/4/2022 Lý A V bị Tòa án nhân dân huyện Bát Xát, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 12 tháng. Ngày 11/02/2023 đã chấp hành xong.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt chính: Tại phiên tòa Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử: Xử phạt bị cáo với mức án từ 03(ba) năm đến 03(ba) năm 06(sáu) tháng tù. Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị áp dụng hình phạt tù có thời hạn để răn đe, giáo dục, cải tạo đối với bị cáo của Kiểm sát viên là có căn cứ cần chấp nhận. Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án thấp nhất của khung hình phạt là 03 (ba) năm tù. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo Lý A V là người nghiện chất ma túy lâu năm, bản thân đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, năm 2022 bị Tòa án nhân dân huyện Bát Xát áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc tại cơ sở cai nghiện ma túy. Bị cáo đã được giáo dục, học tập, chữa bệnh nhưng sau khi chấp hành xong bị cáo đã không lấy đó làm bài học cho bản thân, tiếp tục quay lại sử dụng trái phép chất ma túy và thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng. Hành vi của bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật nên mức hình phạt người bào chữa đề nghị áp dụng đối với bị cáo là chưa phù hợp, không đủ răn đe, giáo dục bị cáo nên không được chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 249 quy định: "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét bị cáo là người dân tộc thiểu số, không có công việc, không có thu nhập ổn định, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tuyên tịch thu, tiêu hủy: 0,37 gam heroin còn lại sau trích mẫu giám định cùng 02 mảnh nilon màu hồng và toàn bộ bì niêm phong ban đầu đã được tái niêm phong trong 01 bì thư của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai. Trên một mặt của bì niêm phong có ghi: “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi bắt quả tang Lý A V tại thôn 5, xã Bát Xát, tỉnh Lào Cai ngày 26/03/2026. Các vật chứng trên hiện đang được lưu trữ, bảo quản tại kho vật chứng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Lào Cai.

Các vấn đề khác: Lý A V bị áp dụng biện pháp quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú trong thời hạn 02 năm, kể từ 11/02/2023 đến 11/02/2025 theo Quyết định quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú số 97/QQĐ-UBND của UBND xã Cốc Mỳ, huyện Bát Xát. Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, Lý A V đang trong thời hạn 02 năm kể từ ngày hết thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy, nhưng không trong thời hạn quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy. Do đó không đủ căn cứ để xử lý Lý A V về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự là đúng. Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Tuyên tịch thu, tiêu hủy: 0,37 gam heroin còn lại sau trích mẫu giám định cùng 02 mảnh nilon màu hồng và toàn bộ bì niêm phong ban đầu đã được tái niêm phong trong 01 bì thư của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai. Trên một mặt của bì niêm phong có ghi: “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi bắt quả tang Lý A V tại thôn 5, xã Bát Xát, tỉnh Lào Cai ngày 26/03/2026. Các vật chứng trên hiện đang được lưu trữ, bảo quản tại kho vật chứng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Lào Cai.

Về án phí: Bị cáo Lý A V là người dân tộc thiểu số, sống ở xã có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn của tỉnh Lào Cai, vì vậy cần áp dụng điểm đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2025;

Điểm đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lý A V phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lý A V 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo là ngày 26/3/2026. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

3. Về vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy: 0,37 gam heroin còn lại sau trích mẫu giám định cùng 02 mảnh nilon màu hồng và toàn bộ bì niêm phong ban đầu đã được tái niêm phong trong 01 bì thư của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai. Trên một mặt của bì niêm phong có ghi: “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi bắt quả tang Lý A V tại thôn 5, xã Bát Xát, tỉnh Lào Cai ngày 26/03/2026. Các vật chứng trên hiện đang được lưu trữ, bảo quản tại kho vật chứng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Lào Cai.

4. Về án phí: Miễn cho Lý AViệt 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ