- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Văn Q xin ly hôn với Nguyễn Thị Yến N"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn củ a nguyên đơn anh Nguyễn Văn Q đố i vớ i bị đơn chị Nguyễn Thị Yế n N.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3- AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 60/2026/HNGĐ-ST Ngày: 01/4/2026 V/v “Tranh chấp xin ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Tấn Đẩu
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Kiện
Ông Nguyễn Thành Thái
- Thư ký phiên Tòa: Bà Nguyễn Kiều Duyên - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 3- An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3-An Giang tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Mỹ Tiên - Kiểm sát viên
Ngày 01 tháng 4 năm 2026, Tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 3-An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 392/2025/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 11 năm 2025, về việc “Tranh chấp xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2026/QĐXXST- HNGĐ, ngày 26 tháng 02 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 26/2026/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 3 năm 2026, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1996 (có mặt)
Nơi cư trú: Tổ A, ấp K, xã T, tỉnh An Giang. * Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Yến N, sinh năm 1985 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Ấp T, xã T, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn anh Nguyễn Văn Q trình bày: Anh và chị Nguyễn Thị Yến N, kết hôn năm 2019, tại UBND thị trấn T, tỉnh Kiên Giang, nay là xã T, tỉnh An Giang. Thời gian đầu chung sống vợ chồng hạnh phúc nhưng thời gian sau vợ chồng thường phát sinh mâu thuẫn, nhất là từ khi đứa con thứ nhất chào đời được hai năm thì cháu mất do bệnh tim bẩm sinh. Sau đó anh chị đã sống ly thân khoảng hơn 01 năm nay. Nay tình cảm vợ chồng không còn, anh cảm thấy không hạnh phúc khi chung sống với nhau nên anh xin ly hôn với chị Nguyễn Thị Yến N.
Tại phiên tòa anh Nguyễn Văn Q có yêu cầu:
- Về hôn nhân: Xin được ly hôn với chị Nguyễn Thị Yến N.
- Về việc nuôi con chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn chị Nguyễn Thị Yến N: Trong quá trình giải quyết vụ án chị Nguyễn Thị Yến N đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án. Nhưng qua thời gian luật định chị Nguyễn Thị Yến N vẫn không có văn bản tự khai và cũng không có ý kiến gì gửi đến Tòa án. Sau đó, Tòa án tiếp tục tống đạt cũng như niêm yết nhiều lần thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định pháp luật nhưng chị Nguyễn Thị Yến N vẫn vắng mặt không có lý do nên không có ý kiến trình bày. Do đó, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ Tòa án tiến hành giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 – An Giang phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, sự tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng và ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký thực hiện đúng quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Thời hạn chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án:
- Về hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn Q. Cho anh Nguyễn Văn Q được ly hôn với chị Nguyễn Thị Yến N.
- Về việc nuôi con chung: Không có, nên không yêu giải quyết.
- Về tài sản chung: Không có, nên không yêu giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, nên không yêu giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:
[1] - Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Văn Q hiện quyền khởi kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự và tại khoản 1 Điều 5 Nghị quyết 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thì thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân khu vực 3, tỉnh An Giang.
[2] - Về quan hệ pháp luật tranh chấp, nguyên đơn anh Nguyễn Văn Q yêu cầu ly hôn với bị đơn chị Nguyễn Thị Yến N. Nên quan hệ pháp luật tranh chấp được xác định trong vụ án là “Tranh chấp xin ly hôn”.
[3] - Về sự có mặt của các đương sự: Bị đơ n chị Nguyễn Thị Yến N đã được Tòa án triệu tập, tống đạt xét xử hợp lệ, đúng theo quy định pháp luật như ng chị Nguyễn Thị Yế n N vẫn vắng mặt không có lý do. Tại phiên tòa, nguyên đơn anh Nguyễn Vă n Q thống nhất yêu cầu xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị Yế n N. Căn cứ vào Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, HĐXX quyết định xét xử vắng mặt bị đơ n chị Nguyễn Thị Yế n N theo quy định pháp luậ t.
[4] - Về nội dung: Anh Nguyễn Văn Q và chị Nguyễn Thị Yến N chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân thị trấn T, tỉnh Kiên Giang (nay là UBND xã T, tỉnh An Giang) cấp giấy chứng nhận kết hôn nên hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận.
Xét yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn Q yêu cầu ly hôn với Nguyễn Thị Yến N: HĐXX xét thấy trong quá trình giải quyết vụ án anh Nguyễn Văn Q xác nhận, sau khi kết hôn thì giữa anh và Nguyễn Thị Yến N chung sống rất hạnh phúc nhưng đến thời gian gần đâu thì hay xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung trong cuộc sống nên anh chị đã sống ly thân với nhau đã hơn 01 năm cho đến nay. Đối với chị Nguyễn Thị Yến N mặc dù Tòa án đã nhiều lần tống đạt thông báo hòa giải để mở phiên hòa giải nhằm mục đích động viên anh chị có cơ hội hàn gắn đoàn tụ nhưng chị Nguyễn Thị Yến N vẫn vắng mặt nhiều lần không lý do nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Đồng thời, Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để chị Nguyễn Thị Yến N có mặt tham gia phiên tòa nhưng chị Nguyễn Thị Yến N vẫn vắng mặt. Tại phiên toà, anh Nguyễn Văn Q vẫn cương quyết xin được ly hôn với chị Nguyễn Thị Yến N. HĐXX xét thấy, mâu thuẫn về hôn nhân giữa anh Nguyễn Văn Q và chị Nguyễn Thị Yến N đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống vợ chồng không thể kéo dài. Do đó, xét thấy việc anh Nguyễn Văn Q xin được ly hôn đối với chị Nguyễn Thị Yến N là có căn cứ phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 nên HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Nguyễn Văn Q đối với chị Nguyễn Thị Yến N.
[5] - Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Nguyễn Văn Q xác định là không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[6] - Về tài sản chung và nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã triệu tập chị Nguyễn Thị Yến N đúng theo quy định pháp luật nhưng chị Nguyễn Thị Yến N vẫn vắng mặt không lý do nên Toà án không tiến hành hoà giải, đối chất để xác định về tài sản chung cũng như nợ chung giữa anh chị được. Mặt khác, tại phiên toà anh Nguyễn Văn Q khẳng định anh chị không tạo lập được tài sản gì chung và cũng không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, về phần tài sản chung và nợ chung HĐXX không xem xét nếu sau này anh chị hoặc cơ quan tổ chức, cá nhân nào khác có yêu cầu thì các đương sự có quyền khởi kiện bằng vụ án khác theo quy định pháp luật.
[7] - Xét quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở và phù hợp với quy định của pháp luật như đã phân tích nêu trên nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8] - Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc anh Nguyễn Văn Q phải chịu 300.000 đồng tiền án phí nhưng anh Nguyễn Văn Q được khấu trừ số tiền 300.000 đồng đã tạm ứng án phí sơ thẩm theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0008681 ngày 13 tháng 11 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn củ a nguyên đơn anh Nguyễn Văn Q đố i vớ i bị đơn chị Nguyễn Thị Yế n N.
1. Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn anh Nguyễn Văn Q được ly hôn với bị đơn chị Nguyễn Thị Yến N.
2. Về quan hệ con chung: Anh Nguyễn Văn Q xác định là không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
3. Về tài sản chung: Anh Nguyễn Văn Q xác định là không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
4. Về nợ chung: Anh Nguyễn Văn Q xác định là không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
5. Về án phí: Anh Nguyễn Văn Q phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm với số tiền là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng đã tạm ứng án phí sơ thẩm theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0008681 ngày 13 tháng 11 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang.
6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy địnhpháp luật.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh An Giang; - VKSND KV 3-An Giang; - THADS tỉnh An Giang; - UBND xã Tân Hiệp, An Giang; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Tấn Đẩu |