- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bùi Thị N - Lại Văn L"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Bùi Thị N. Bà Bùi Thị N được ly hôn với ông Lại Văn L.
- Căn cứ chính? Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 60/2025/HNGĐ-ST Ngày: 25/3/2025 “V/v: Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Thủy.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Chánh.
Bà Nguyễn Thị Kim Chi.
- Thư ký phiên tòa: Bà La Nguyễn Minh Thi – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa: Bà Trần Thị Thủy
- Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 2549/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 11 năm 2024 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 06/02/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 84/2025/QĐST-HNGĐ ngày 04/3/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Bùi Thị N, sinh năm 1981.
- Bị đơn: Ông Lại Văn L, sinh năm 1978.
HKTT: 5C/4, Tổ A, KP E, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
(bà N có đơn xin xét xử vắng mặt; ông L vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn bà Bùi Thị N trình bày:
Bà và ông Lại Văn L xây dựng gia đình với nhau vào năm 2008 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Quá trình chung sống thời gian đầu có hạnh phúc. Sau này vợ chồng phát sinh những mâu thuẫn. Hai vợ chồng đã cố gắng hàn gắn nhưng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Nguyên nhân mâu thuẫn do hai vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không hòa hợp nên hay xảy ra xung đột và không còn tôn trọng lân nhau. Hai vợ chồng đã nhiều lần tìm cách giải quyết nhưng không có kết quả. Xét tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà N xin ly hôn.
Về con chung: Có 02 con chung là cháu Lại Uyển M, sinh ngày 04/6/2010 và cháu Lại Quang M1 sinh ngày 27/9/2014. Sau ly hôn, bà N đề nghị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai con và yêu cầu ông Lại Văn L cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng là 5.000.000đ (Năm triệu đồng) cho hai cháu (2.500.000đ/cháu/tháng) đến khi hai cháu đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa giải quyết.
Ngoài ra không yêu cầu gì khác.
Bị đơn ông Lại Văn L vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ kiện.
* Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên Tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đảm bảo đúng quy định pháp luật. Nguyên đơn, chấp hành đúng các thủ tục theo quy định pháp luật, bị đơn không chấp hành đúng các thủ tục theo quy định pháp luật;
Về việc giải quyết vụ án:
+ Về quan hệ hôn nhân: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn yêu cầu xin ly hôn của bà Bùi Thị N. Bà N được ly hôn với ông Lại Văn L.
+ Về con chung: Giao 02 con chung là cháu Lại Uyển M, sinh ngày 04/6/2010 và cháu Lại Quang M1 sinh ngày 27/9/2014 cho bà Bùi Thị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông L cấp dưỡng nuôi 02 con chung 5.000.000đ/tháng (2.500.000đ/cháu/tháng).
+ Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa giải quyết.
+ Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa giải quyết.
+ Về án phí: bà N, ông L phải nộp án phí ly hôn theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Bà Bùi Thị N có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Ông Lại Văn L đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Căn cứ điểm a, b khoản 1 điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà N, ông L.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Thị N và ông Lại Văn L tự nguyện tìm hiểu, sống chung với nhau vào năm 2008 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ các điều 9, 10, 11, 12 Luật Hôn nhân gia đình năm 2000 xác định quan hệ hôn nhân của bà N, ông L là hợp pháp. Nay bà N xin ly hôn, Tòa án căn cứ vào Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để giải quyết.
Về yêu cầu xin ly hôn của bà N: Bà N xin ly hôn với ông L với lý do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính tình không hòa hợp nên vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, cãi vã. Ông L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Tòa án đã tiến hành thu thập chứng cứ về địa chỉ của ông L cũng như mâu thuẫn vợ chồng giữa bà N, ông L thì được biết: Ông Lại Văn L, sinh năm 1978 có đăng ký thường trú tại địa chỉ E, tổ A, khu phố E, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Hiện ông L đang sinh sống tại địa chỉ trên. Trong thời gian bà N, ông Lương S chung tại phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai có xảy ra mâu thuẫn hay không địa phương không nắm rõ do không nhận được tin báo cũng như liên hệ để giải quyết. Về con chung, tài sản chung, nợ chung địa phương không nắm rõ.
Xét thấy, quá trình giải quyết vụ án, từ khi thụ lý cho đến thời điểm xét xử, Tòa án đã nhiều lần triệu tập bà N, ông L lên Tòa làm việc, hòa giải để hàn gắn đoàn tụ nhưng bà N kiên quyết xin ly hôn và ông L vắng mặt không có lý do. Điều này cho thấy ông L đã bỏ mặc quan hệ hôn nhân của mình.
Do đó, mâu thuẫn giữa bà N, ông L là có thật, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, không có khả năng hàn gắn, đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được. Nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà N. Cho bà N được ly hôn với ông L là phù hợp.
Về con chung: Có 02 con chung là cháu Lại Uyển M, sinh ngày 04/6/2010 và cháu Lại Quang M1 sinh ngày 27/9/2014. Sau ly hôn, bà N đề nghị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai con chung, yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi 02 con 5.000.000đ/tháng (2.500.000đ/tháng/cháu).
Nhận thấy, Tòa án đã lấy ý kiến của cháu L1 Uyển M và cháu Lại Quang M1 và nguyện vọng của hai cháu là được ở với bà N. Hiện tại cháu M và cháu M1 đang sống với bà N. Ly hôn, bà N có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông L để lấy ý kiến về việc chăm sóc con chung nhưng ông L vắng mặt không có lý do và không trình bày ý kiến về nguyện vọng chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, không chứng minh điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Do đó, để đảm bảo việc ổn định cuộc sống, phát triển toàn diện về thể chất cũng như tinh thần của cháu M và cháu M1, HĐXX chấp nhận yêu cầu của bà N về việc trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung.
Về cấp dưỡng nuôi con: Khoản 1 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên…, Khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về Hôn nhân gia đình quy định: “Tiền cấp dưỡng cho con là toàn bộ chi phí cho việc nuôi dưỡng, học tập của con và do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định mức cấp dưỡng căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng. Mức cấp dưỡng do Tòa án quyết định nhưng không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng đang cư trú cho mỗi tháng đối với mỗi người con”. Điều 3 Nghị định 74/2024/NĐ-CP ngày 30/6/2024 của Chính phủ quy định mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động quy định: Mức lương tối thiểu Vùng I là 4.960.000đ/tháng.
Ly hôn, bà N yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung và yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi 02 con 5.000.000đ/tháng (2.500.000đ/tháng/cháu). Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông L để lấy ý kiến về điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng con chung nhưng ông L vắng mặt không có lý do và không trình bày ý kiến. Xét thấy, cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau trong việc nuôi dưỡng, chăm sóc con chưa thành niên. Do đó, để đảm bảo việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và đảm bảo sự phát triển của cháu M và cháu M1, HĐXX buộc ông L cấp dưỡng nuôi 02 con chung 5.000.000đ/tháng (2.500.000đ/cháu/tháng).
Về tài sản chung: Bà N khai tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết. Ông L vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ việc nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
Về nợ chung: Bà N khai không có, không yêu cầu giải quyết. Ông L vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ việc nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
Về án phí HNGĐ sơ thẩm: Bà N, ông L phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên Tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điều 203, điều 235, điểm a, b khoản 1 điều 238, 266 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Áp dụng Điều 9, 10, 11, 12 Luật Hôn nhân gia đình năm 2000; Điều 51, 53, 54, 56, 57, 71, 81, 82, 83, 84, 131 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016;
1. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Bùi Thị N. Bà Bùi Thị N được ly hôn với ông Lại Văn L.
2. Về con chung: Giao cháu Lại Uyển M, sinh ngày 04/6/2010 và cháu Lại Quang M1 sinh ngày 27/9/2014 cho bà Bùi Thị N trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Lại Văn L cấp dưỡng nuôi 02 con mỗi tháng 5.000.000đ (2.500.000đ/cháu/tháng) tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật đến khi con trưởng thành và có khả năng lao động.
Vì không trực tiếp nuôi con nên ông L được quyền đi lại thăm con không ai cản trở. Vì quyền lợi của trẻ khi cần thiết ông bà được quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra xem xét, giải quyết.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Bùi Thị N phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được trừ vào tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số: 0004393 ngày 24/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
Ông Lại Văn L phải nộp 300.000đ án phí cấp dưỡng nuôi con.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sựthì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Đồng Nai (1); -VKSND thành phố Biên Hòa (2); -THA Dân sự thành phố Biên Hòa (1); -UBND phường An Bình, TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai (1); -Đương sự (4) -Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Thanh Thủy |