vanban.org

Bản án 60/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị T và anh Đinh Quang H. Quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị T và anh Đinh Quang H chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

Về con chung: Giao cháu Đinh Quang H - Sinh ngày 06/11/2018 cho anh Đinh Quang H, giao cháu Đinh Hoàng B - Sinh ngày 07/8/2020 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu Đinh Quang H và cháu Đinh Hoàng B đủ 18 tuổi. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con ch… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị T - Đinh Quang H"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị T và anh Đinh Quang H. Quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị T và anh Đinh Quang H chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự…; Luật phá sản và luật hoà giải
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6 - LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2025/HNGĐ-ST
Ngày 15 - 12 - 2025
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về
nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thu Trang

Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Mai Thị Hiền

2. Bà Nguyễn Thị Kim Khuyên

- Thư ký phiên toà: Bà Lý Thị Tươi - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 6

- Lào Cai

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Lào Cai tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Hồng Luận - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 6 - Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 80/2025/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 18 tháng 11 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 38/2025/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T - Sinh năm 1993

Nơi ĐKHKTT: Tổ 27 K, phường L, tỉnh Lào Cai

Nơi ở: Số nhà 096, đường L, tổ 21 K, phường L, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

2. Bị đơn: Anh Đinh Quang H - Sinh năm 1992

Nơi ĐKHKTT: Tổ 27 K, phường L, tỉnh Lào Cai

Nơi ở: Số nhà 096, đường L, tổ 21 K, phường L, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt (Không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và đơn xin xét xử vắng mặt nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Đinh Quang H kết hôn với nhau vào ngày 23/9/2017 có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường Kim Tân, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai (nay là Uỷ ban nhân dân phường Lào Cai, tỉnh Lào Cai). Sau khi kết hôn thì giữa anh chị đã xảy ra rất nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh chị tính cách không hợp nhau, bất đồng quan điểm trong đời sống, trong làm ăn kinh tế và cách nuôi dạy con cái, từ đó dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau khiến cho cuộc sống gia đình luôn căng thẳng, không có hạnh phúc. Anh H thường xuyên chửi bới, xúc phạm danh dự của chị T. Mâu thuẫn giữa anh chị ngày nào cũng xảy ra, không ngày nào chị T được sống yên ổn. Mặc dù mâu thuẫn giữa anh chị đã được hai bên gia đình nhiều lần khuyên giải nhưng vẫn không thể cải thiện được. Chị T và anh H hiện nay đã sống ly thân nhau, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau cả về tình cảm và kinh tế. Nay chị Nguyễn Thị T xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không có hạnh phúc nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đinh Quang H.

Về con chung: Thời gian chung sống chị Nguyễn Thị T và anh Đinh Quang H có 02 con chung là cháu Đinh Quang H - Sinh ngày 06/11/2018 và cháu Đinh Hoàng B - Sinh ngày 07/8/2020. Khi ly hôn chị Nguyễn Thị T đề nghị Toà án giải quyết cho chị được nuôi dưỡng cháu Đinh Hoàng B, anh Đinh Quang H nuôi dưỡng cháu Đinh Quang H đến khi các cháu đủ 18 tuổi, không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện nay chj Nguyễn Thị T đang làm giáo viên tại Trường THCS Sín Chéng (có địa chỉ tại xã Sín Chéng, tỉnh Lào Cai), thu nhập của chị bình quân khoảng 8.400.000 đồng/tháng.

Về tài sản: Chị Nguyễn Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Đinh Quang H trình bày

Về quan hệ hôn nhân: Anh Đinh Quang H và chị Nguyễn Thị T kết hôn với nhau vào ngày 23/9/2017 có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường Kim Tân, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai (nay là Uỷ ban nhân dân phường Lào Cai, tỉnh Lào Cai). Sau khi kết hôn về chung sống thì giữa anh chị có nảy sinh mâu thuẫn, vợ chồng có cãi nhau lời qua tiếng lại nH anh H chưa đánh đập chị T, vợ chồng cũng chỉ giằng co qua lại. Nguyên nhân mâu thuẫn chỉ là do anh chị tính cách không hợp nhau, bất đồng quan điểm trong làm ăn kinh tế, cách nuôi dạy con cái và những xô xát nhỏ trong cuộc sống hàng ngày. Mặc dù mâu thuẫn đã được hai bên gia đình nhiều lần khuyên giải nH vẫn không thể cải thiện được. Anh chị đã sống ly thân từ cuối tháng 9/2025 đến nay, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau. Nay chị Nguyễn Thị T khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn với anh Đinh Quang H thì quan điểm của anh H là không đồng ý ly hôn với chị T vì anh H vẫn còn tình cảm với chị T và mong muốn con chung của anh chị có đầy đủ cả bố và mẹ để các cháu phát triển bình thường, không ảnh hưởng đến tâm lý.

Về con chung: Quá trình chung sống anh Đinh Quang H và chị Nguyễn Thị T có 02 con chung là cháu Đinh Quang H - Sinh ngày 06/11/2018 và cháu Đinh Hoàng B - Sinh ngày 07/8/2020. Trường hợp vợ chồng phải ly hôn thì anh Đinh Quang H có nguyện vọng được nuôi dưỡng cả hai cháu Đinh Hoàng B và cháu Đinh Quang H đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu chị Nguyễn Thị T phải cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện nay anh Đinh Quang H đang làm công việc bán hàng tại nhà, thu nhập bình quân khoảng 20.000.000 đồng/tháng.

Về tài sản: Anh Đinh Quang H không yêu cầu Toà án giải quyết.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Lào Cai tại phiên tòa: Quá trình giải quyết vụ án các thủ tục tố tụng được tiến hành đầy đủ. Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn đúng quy định, bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình. Tại phiên tòa nguyên đơn vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ. Đề nghị hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238; khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị T và anh Đinh Quang H. Quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị T và anh Đinh Quang H chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

Về con chung: Giao cháu Đinh Quang H - Sinh ngày 06/11/2018 cho anh Đinh Quang H; giao cháu Đinh Hoàng B - Sinh ngày 07/8/2020 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu Đinh Quang H và cháu Đinh Quang H đủ 18 tuổi. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung. Chị Nguyễn Thị T và anh Đinh Quang H có quyền đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Tuyên án phí và quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đinh Quang H và giải quyết việc nuôi con chung giữa anh chị, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp giữa các đương sự là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Bị đơn anh Đinh Quang H có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ 27 Kim Tân, phường Lào Cai, tỉnh Lào Cai và nơi ở tại số nhà 096, đường Lý Công Uẩn, tổ 21 Kim Tân, phường Lào Cai, tỉnh Lào Cai vì vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Lào Cai theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 của Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và luật hoà giải, đối thoại tại Toà án số 85/2025/QH15.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hoà giải nH các đương sự không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án nên Toà án đưa vụ án ra xét xử. Tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị T có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Đinh Quang H vắng mặt lần thứ hai không có lý do mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ vì vậy Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu khởi kiện:

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Đinh Quang H đăng ký kết hôn với nhau ngày 23/9/2017 tại Uỷ ban nhân dân phường Kim Tân, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai (nay là Uỷ ban nhân dân phường Lào Cai, tỉnh Lào Cai) trên cơ sở tự nguyện. Do đó hôn nhân giữa anh chị là hợp pháp.

Về mâu thuẫn vợ chồng, chị Nguyễn Thị T và anh Đinh Quang H đều xác nhận giữa anh chị có xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh chị không hợp nhau, bất đồng quan điểm trong làm ăn kinh tế và nuôi dạy con cái từ đó dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Mâu thuẫn giữa anh chị mặc dù đã được hai bên gia đình nhiều lần khuyên giải nH vẫn không thể cải thiện được, hiện nay anh chị đã sống ly thân, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau. Tại biên bản xác minh ngày 06/11/2025 của Toà án nhân dân khu vực 6 - Lào Cai đã xác định trong thời gian chung sống giữa chị Nguyễn Thị T và anh Đinh Quang H có xảy ra mâu thuẫn và đã sống ly thân nhau. Nội dung xác minh phù hợp với lời khai của chị Nguyễn Thị T và anh Đinh Quang H. Xét thấy mâu thuẫn giữa chị Nguyễn Thị T và anh Đinh Quang H đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không có hạnh phúc, giữa vợ chồng không có sự quan tâm, chăm sóc, chia sẻ, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị T đối với anh Đinh Quang H.

Về con chung: Thời gian chung sống chị Nguyễn Thị T và anh Đinh Quang H có 02 con chung là cháu Đinh Quang H - Sinh ngày 06/11/2018 và cháu Đinh Hoàng B - Sinh ngày 07/8/2020. Khi ly hôn chị Nguyễn Thị T đề nghị Toà án giải quyết cho chị được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Đinh Hoàng B, anh Đinh Quang H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Đinh Quang H cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Anh Đinh Quang H đề nghị Toà án giải quyết cho anh được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cả hai cháu Đinh Quang H và cháu Đinh Hoàng B cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.

Quá trình giải quyết vụ án, theo lời khai của các đương sự, tài liệu chứng cứ giao nộp và nội dung xác minh của Tòa án thì hiện nay anh Đinh Quang H đang làm công việc lao động tự do, buôn bán tại nhà, có thu nhập, chị Nguyễn Thị T đang làm giáo viên tại Trường THCS Sín Chéng (có địa chỉ tại xã Sín Chéng, tỉnh Lào Cai), thu nhập khoảng 8.400.000 đồng/tháng. Xét thấy chị Nguyễn Thị T và anh Đinh Quang H đều có việc làm và có thu nhập, quá trình giải quyết vụ án cháu Đinh Quang H có nguyện vọng được ở với anh Đinh Quang H, do đó Hội đồng xét xử quyết định giao cháu Đinh Hoàng B cho chị Nguyễn Thị T, giao cháu Đinh Quang H cho anh Đinh Quang H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, anh chị có quyền đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở là phù hợp với quy định tại Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Lào Cai: Xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về việc áp dụng pháp luật và quan điểm giải quyết vụ án là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238; khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 1 của Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và luật hoà giải, đối thoại tại Toà án số 85/2025/QH15; khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị T và anh Đinh Quang H. Quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị T và anh Đinh Quang H chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: Giao cháu Đinh Quang H - Sinh ngày 06/11/2018 cho anh Đinh Quang H, giao cháu Đinh Hoàng B - Sinh ngày 07/8/2020 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu Đinh Quang H và cháu Đinh Hoàng B đủ 18 tuổi. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung. Chị Nguyễn Thị T và anh Đinh Quang H có quyền đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, xác nhận chị Nguyễn Thị T đã nộp đủ tiền án phí là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0000918 ngày 02 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Lào Cai.

4. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị T và anh Đinh Quang H được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ