vanban.org

Bản án 60/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Bảo vệ; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CỜ ĐỎ
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60 /2025/HNGĐ-ST
Ngày: 13-5-2025
V/v: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ - THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Ngọc Lam Điền

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Thọ

Ông Lê Văn Thừa

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Giai Thoại – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.

Ngày 13 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 58/2025/TLST-HNGĐ, ngày 20 tháng 02 năm 2025 về việc: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 03 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1982

Địa chỉ: Số 42, ấp T, Thị trấn C, huyện Cờ Đỏ, TP Cần Thơ.

Bị đơn: Ông Nguyễn Thái H1, sinh năm 1979

Địa chỉ: Số 42, ấp T, Thị trấn C, huyện Cờ Đỏ, TP Cần Thơ.

(Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ nguyên đơn trình bày: Bà và ông Nguyễn Thái H1 tự nguyện tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn được UBND thị trấn C, huyện Cờ Đỏ, TP Cần Thơ cấp giấy Chứng nhận kết hôn số 45, vào ngày 12/7/2002.

Cuộc sống vợ chồng thời gian đầu hạnh phúc nhưng thời gian sau bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn. Cả hai không còn tìm được tiếng nói chung, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng và không còn hạnh phúc, hiện nay cả hai đã sống ly thân và bà không còn tình cảm với ông Hòa nữa, nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống hôn nhân không thể kéo dài và không còn khả năng hàn gắn nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Thái H1.

Về con chung: Quá trình chung sống cả hai có 02 con chung là Nguyễn Thị Kim A (nữ) sinh ngày 29/9/2001 đã trưởng thành nên không yêu cầu và Nguyễn Hoàng P (Nam) sinh ngày 30/8/2009. Bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Hoàng P, không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng.

Về tài sản chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết

Tại phiên tòa,

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Bị đơn ông Nguyễn Thái H đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do là tự tước đi quyền và lợi ích của mình. Nên, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định pháp luật và dành quyền kháng cáo đối với bị đơn theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Xét về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án ly hôn giữa công dân với công dân; bà Nguyễn Thị Kim H có đơn khởi kiện yêu cầu xin ly hôn, nuôi con với ông Nguyễn Thái H1, nên xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”. Quan hệ tranh chấp này thuộc Luật Hôn nhân và Gia đình điều chỉnh. Bị đơn có nơi cư trú tại huyện Cờ Đỏ, Thành phố Cần Thơ nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ theo Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Xét việc vắng mặt đương sự, bị đơn ông Nguyễn Thái H1 đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai vẫn vắng mặt, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiếp tục xét xử vụ kiện vắng mặt bị đơn theo quy định.

Do vụ kiện Tòa án không có thực hiện thủ tục thu thập chứng cứ, chứng cứ do đương sự cung cấp nên Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cờ Đỏ không phải tham gia phiên tòa theo Khoản 2 điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Xét tính hợp pháp: Giữa bà Nguyễn Thị Kim H và ông Nguyễn Thái H1 tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn được UBND Thị trấn Cờ Đỏ, huyện Cờ Đỏ, TP Cần Thơ cấp giấy Chứng nhận kết hôn số 45, vào ngày 12/7/2002, nên được xem là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

[4] Xét về chứng cứ và nội dung giải quyết vụ kiện: Nguyên đơn trình bày nguyên đơn và bị đơn đã có thời gian dài chung sống vợ chồng với nhau, đồng thời giữa nguyên đơn và bị đơn cũng có nhiều mâu thuẫn kéo dài, do bất đồng quan điểm sống, không tìm được biện pháp nào để hàn gắn. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn như lúc đầu, không thể chung sống với bị đơn được nữa nên bà yêu cầu ly hôn.

Hội đồng xét xử xét: Nguyên tắc của hôn nhân phải được xây dựng trên cơ sở tự nguyện, tiến bộ, các thành viên trong gia đình phải có sự quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau để cùng xây dựng hạnh phúc gia đình. Nhưng giữa nguyên đơn và bị đơn đã không còn sự tin yêu, quan tâm chăm sóc nhau trong cuộc sống. Nguyên nhân là do bất đồng về quan điểm sống, về cách đối xử vợ chồng trong cuộc sống hàng ngày không hòa hợp. Hội đồng xét xử xét thấy quá trình Tòa án giải quyết đã triệu tập hợp lệ đối với bị đơn để tạo điều kiện hòa giải cho các bên đoàn tụ. Tuy nhiên, bị đơn vẫn vắng mặt, điều này chứng tỏ bị đơn không còn tha thiết với cuộc hôn nhân này, nếu duy trì cuộc hôn nhân này mục đích hôn nhân vẫn không đạt được, nên căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình (năm 2014); nhận thấy tình trạng hôn nhân giữa ông - bà là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim H yêu cầu xin ly hôn với bị đơn ông Nguyễn Thái H1 là có cơ sở chấp nhận.

[5] Về con chung: Nguyên đơn trình bày có 02 con chung tên Nguyễn Thị Kim A (nữ) sinh ngày 29/9/2001 đã trưởng thành nên không yêu cầu và Nguyễn Hoàng P (Nam) sinh ngày 30/8/2009. Bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Hoàng P, không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng.

Xét thấy, nguyên đơn có công việc và có thu nhập, có điều kiện để chăm sóc đảm bảo cuộc sống cho con chung. Hiện tại cháu Nguyễn Hoàng P đang sống chung với nguyên đơn, theo bản tự khai trình bày ý kiến của cháu Nguyễn Hoàng P thì cháu có nguyện vọng được tiếp tục sống cùng mẹ. Để tránh làm thay đổi xáo trộn cuộc sống sinh hoạt của cháu P, căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con chung, căn cứ Điều 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình, nên giao cháu Nguyễn Hoàng P cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật và không trái với đạo đức xã hội. Đối với cháu Nguyễn Thị Kim A do đã trưởng thành nên Hôi đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không xem xét. Vì quyền lợi của trẻ em, nếu các đương sự thực hiện việc trực tiếp nuôi con chung chưa thành niên không tốt thì có thể yêu cầu Tòa án thay đổi quyền nuôi con hoặc yêu cầu được thay đổi cấp dưỡng và mức cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định pháp luật.

Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho ông Nguyễn Thái H1. Không ai được quyền ngăn cản ông H1 thực hiện quyền này.

[6] Về tài sản chung và nợ chung:

Về tài sản chung: Nguyên đơn xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Nguyên đơn xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong trường hợp này do bị đơn vắng mặt nên tách ra giải quyết thành vụ kiện khác khi có tranh chấp và đương sự có yêu cầu.

[7] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ áp dụng:

- Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 174; Điều 175; Điều 179, Điều 227, Điều 228, Điều 266; Điều 267; Điều 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Điều 51, 56, 72, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình (năm 2014);

- Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội (Quy định về án phí, lệ phí Tòa án),

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện tranh chấp ly hôn của bà Nguyễn Thị Kim H với ông Nguyễn Thái H1 như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kim H được ly hôn với ông Nguyễn Thái H1.

- Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Hoàng P (Nam) sinh ngày 30/8/2009 cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim H trực tiếp nuôi dưỡng. Đối với cháu Nguyễn Thị Kim A (nữ) sinh ngày 29/9/2001 đã trưởng thành nên không xem xét.

-Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Ông Nguyễn Thái H1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Vì quyền lợi của trẻ em, nếu các đương sự thực hiện việc trực tiếp nuôi con chung chưa thành niên không tốt thì có thể yêu cầu Tòa án thay đổi quyền nuôi con hoặc yêu cầu được thay đổi cấp dưỡng và mức cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định pháp luật.

Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho ông Nguyễn Thái H1. Không ai có quyền ngăn cản ông H1 thực hiện quyền này.

Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đặt ra xem xét. Nếu sau này có tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.

Về án phí:

- Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm. Chuyển tiền tạm ứng án phí nguyên đơn đã nộp theo biên lai thu 0005343, ngày 20/02/2025 thành án phí. Nguyên đơn đã nộp xong án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án đối với đương sự có mặt và kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết đối với đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử lại vụ kiện theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ