- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cứ A Phệnh - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Cứ A P phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ Đ TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số:60/2024/HSST Ngày 22/01/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Đ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bạc Thị Liên
Các hội thẩm nhân dân:
1. Bà Cao Thị Hồng Minh
2. Bà Nguyễn Thị Việt Hà
- Thư ký phiên toà:Bà Nguyễn Thị Thương Huyền - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đ.
- Đại diện VKSND thành Phố Đ, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Ôn Thị Lệ Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 22/01/2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành Phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 66/2023/HSST ngày 13/12/2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2023/QĐXX-HS ngày 30/12/2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Cứ A P.Tên gọi khác:Không Sinh năm 1959. Tại tỉnh Đ. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Bản L 1, xã M, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên. Dân tộc: Mông; Quốc tịch: Việt nam. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Làm ruộng. Trình độ văn hoá: 5/10; Con ông: Cứ A C (đã chết), con bà: Giàng Thị S (đã chết); Gia đình bị cáo có 5 anh em, bị cáo là con thứ 5 trong gia đình. Bị cáo có vợ 1: Giàng Thị S (đã chết); vợ 2: Cứ Thị D (đã chết); Vợ 3: Vàng Thị N sinh năm 1979. Bị cáo có 10 con.Tiền sự: Không. Tiền án: Không. Nhân thân: Ngày 16/6/2006 bị TAND huyện Đ xử phạt 08 năm tù về tội " Mua bán trái phép chất ma túy". Ngày 19/01/2012 chấp hành án xong án trở về địa phương, bản án này đến nay đã xóa án tích.
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 19/9/2023, bị cáo có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 18 giờ ngày 18/9/2023, Cứ A P đi bộ một mình từ nhà tại bản L 1, xã M, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên đến bản C 1, xã M, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đến bản C1, xã Mường P, P gặp một người đàn ông dân tộc Mông (không biết tên địa chỉ) đã hỏi và mua được 01 gói Heroine được gói bên ngoài bằng nilon màu xanh, bên trong có 04 gói nhỏ Heroine (trong đó 01 gói được gói bằng mảnh nilon màu xanh, 03 gói được gói bằng mảnh nilon màu hồng) với giá 200.000đ. Mua được Heroine, Phệnh cất giấu vào túi quần bên trái đang mặc trên người rồi đi bộ về nhà và cất giấu gói Heroine đó tại đầu giường ngủ trong nhà của P. Hồi 11 giờ 45 phút ngày 19/9/2023 khi Phệnh đang ở nhà thì tổ công tác Công an xã M đến vận động, giải thích P đã tự giác lấy từ túi quần phía trước đang mặc trên người ra 01 gói bên trong có 04 gói nhỏ Heroine nộp cho tổ công tác. Tổ công tác đã lập biên bản thu giữ vật chứng.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng ngày 19/9/2023 đã xác định:
Các cục bột thể rắn màu trắng đục nghi heroine thu giữ khi bắt quả tang của Cứ A P gồm: Gói 01 có khối lượng là 0,20 gam (ký hiệu M1); gói 02 có khối lượng là 0,10 gam (ký hiệu M2); gói 03 có khối lượng là 0,18 gam (ký hiệu M3); gói 04 có khối lượng là 0,17 gam (ký hiệu M40. Tổng 4 gói là 0,65 gam gửi toàn bộ giám định.
Tại bản kết luận giám định số 1420/KL-KTHS ngày 26/9/2023 Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đ đã kết luận: Bốn mẫu các cục bột màu trắng ký hiệu M1, M2, M3, M4 thu giữ của Cứ A P gửi giám định là chất ma túy loại Heroine. Hoàn lại đối tượng giám định 0,37gam.
Tại bản cáo trạng số 02/CT-VKSTPĐBP ngày 12/12/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ đã truy tố bị cáo Cứ A P về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện VKSND thành phố Đ vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo P về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249/ BLHS; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38/BLHS.
Xử phạt bị cáo từ 18 tháng đến 24 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng Điểm a, c Khoản 1 Điều 47/BLHS năm 2015; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106/BLTTHS năm 2015 về xử lý vật chứng.
Căn cứ Khoản 2 Điều 136/ BLTTHS năm 2015 và Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 về án phí lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo cũng hoàn toàn nhất trí với quan điểm truy tố và luận tội của VKSND thành phố Đ không có ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng của bị cáo: Ngoài xin giảm nhẹ hình phạt không có ý kiến gì khác.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
. Xét hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng: Hồi 11 giờ 45 phút ngày 19/9/2023 tại nhà ở của mình, bản L 1, xã M, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên Cứ A P đã có hành vi cất giấu trái phép trên người 0,65 gam Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân. Nguồn gốc số ma túy có được là do mua của một người đàn ông dân tộc Mông (không biết tên địa chỉ) tại bản Cang 1, xã M, thành phố Điện Biên Phủ, với giá 200.000đ sau khi mua được ma túy Phệnh đem về chưa kịp sử dụng thì bị bắt quả tang.
Hành vi phạm tội của bị cáo đã hoàn thành và được thực hiện bằng lỗi cố ý trực tiếp. Vật chứng thu giữ của bị cáo đã được cân xác định khối lượng là 0,65 gam kết luận giám định là chất ma túy loại Heroine. Lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng; Kết luận giám định; Kết luận điều tra, các bản cung có trong hồ sơ vụ án cũng như cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo. Từ những chứng cứ nêu trên đủ cơ sở kết luận: Hành vi tàng trữ 0,65 gam Heroine trên người mục đích để sử dụng của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249/BLHS.
C¸o tr¹ng cña VKSND thành phố Đ ®· truy tè bÞ c¸o lµ ®óng ng êi, ®óng téi, ®óng ph¸p luËt. BÞ c¸o cã ®Çy đủ n¨ng lùc ®Ó chÞu tr¸ch nhiÖm h×nh sù tr íc ph¸p luËt vÒ hµnh vi ph¹m téi cña m×nh ®· g©y ra.
. XÐt tÝnh chÊt møc ®é ph¹m téi cña bÞ c¸o th× hµnh vi tàng trữ tr¸i phÐp chÊt ma túy lµ hµnh vi nguy hiÓm cho x· héi, tội phạm mà bị cáo thực hiện thuộc trường hợp nghiêm trọng lµm ¶nh h ëng ®Õn trËt tù trÞ an, an toàn x· héi. Hµnh vi ph¹m téi cña bÞ c¸o ®· x©m ph¹m ®Õn chÝnh s¸ch ®éc quyÒn qu¶n lý cña Nhµ n íc vÒ chÊt ma tuý. BÞ c¸o nhËn thøc ® îc t¸c h¹i cña ma tuý, nhËn thøc ® îc hµnh vi tàng trữ tr¸i phÐp chÊt ma tuý lµ vi ph¹m ph¸p luËt. Song vì nhu cầu của bản thân bÞ c¸o ®· bÊt chÊp vµ cè t×nh vi ph¹m. Nªn cÇn ph¶i xö lý bị cáo nghiêm minh theo quy ®Þnh cña ph¸p luËt.
. Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Cứ A P HĐXX thấy rằng: Sinh ra và lớn lên tại xã M, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên học hết lớp 5/10 thì nghỉ học.
Năm 2006 bị TAND huyện Đ xử phạt 08 năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Ngày 19/01/2012 chấp hành án xong án trở về địa phương bản án này đến nay đã xóa án tích. Mặc dù đã xóa án tích nhưng điều này cho thấy bị cáo có nhân thân xấu. Bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân vẫn cố tình vi phạm cho nên cần phải xử lý bị cáo nghiêm minh. Tuy nhiên trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51/BLHS. Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy cần phải áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội để bị cáo tiếp tục cai nghiện cải sửa lỗi lầm trở thành người công dân tốt cho gia đình và xã hội.
Xét đề nghị của VKS là phù hợp HĐXX chấp nhận.
. Ngoài hình phạt chính là phạt tù thì bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 249/BLHS là phạt tiền từ 05 triệu đồng đến 500 triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. XÐt kinh tÕ bÞ c¸o khã kh¨n, bản thân lại nghiện chất ma tuý. Nªn kh«ng cã ®iÒu kiÖn ®Ó thi hµnh. Héi ®ång xÐt xö kh«ng ¸p dông h×nh ph¹t bæ sung ®èi víi bÞ c¸o.
Đối với người đàn ông dân tộc Mông đã bán ma túy cho bị cáo, do không biết tên và địa chỉ nên cơ quan điều tra không xác minh làm rõ được. HĐXX không xem xét trong vụ án này.
. Về hành vi và các Quyết định của cơ quan người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, Điều tra viên, kiểm sát viên. Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục đảm bảo theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì do đó các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng là hợp pháp, được chấp nhận.
. Vật chứng của vụ án cần áp dụng Điểm a, c khoản 1 Điều 47/BLHS năm 2015; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106/BLTTHS năm 2015 về xử lý vật chứng.
Tịch thu tiêu huỷ 0,37 gam Heroine được hoàn lại sau giám định. 03 mảnh nilon màu hồng; 02 mảnh nilon màu xanh.
.Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136/ BLTTHS năm 2015 và Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 về án phí lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS; Điều 38/ BLHS; Điều 331, Điều 333/BLTTHS.
1. Tuyên bố: Bị cáo Cứ A P phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
2. Xử phạt bị cáo Cứ A P 01 (một) năm 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (ngày 19/9/2023)
3. Vật chứng: Căn cứ Điểm a, c Khoản 1 Điều 47/BLHS; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106/BLTTHS.
Tịch thu tiêu huỷ M1: 0,16 gam Heroine được hoàn lại sau giám định.
Tịch thu tiêu huỷ M2: 0,05 gam Heroine được hoàn lại sau giám định.
Tịch thu tiêu huỷ M3: 0,1 gam Heroine được hoàn lại sau giám định.
Tịch thu tiêu huỷ M4: 0,06 gam Heroine được hoàn lại sau giám định.
03 mảnh nilon màu hồng; 02 mảnh nilon màu xanh;
(Vật chứng đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ chuyển cho Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đ vào ngày 14/12/2023 đặc điểm vật chứng mô tả theo biên bản giao nhận).
4. Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136/BLTTHS năm 2015 và Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 về án phí lệ phí Tòa án bị cáo Cứ A P phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
5. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 22/01/2024).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đ; - VKSND tỉnh ĐB - VKSND TPĐiện B; - Công an TP Đ; - Bộ phận HNV- CATP Đ; - Sở TP tỉnh Đ; - CCTHADS TP Đ; - THA hình sự: - Bị cáo; - Lưu./ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bạc Thị Liên |