vanban.org

Bản án 60/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang Tuyên án 24/12/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Tuyên bố bị cáo Trần Văn Th phạm tội “Đánh bạc”

[2] Về điều luật áp dụng và hình phạt: [2.1] Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 50; điểm s, i khoản 1 khoản 2 Điều 51 Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "hình sự - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố bị cáo Trần Văn Th phạm tội “Đánh bạc”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự giải
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VỊ THỦY
TỈNH HẬU GIANG
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2024/HS-ST
Ngày: 24 – 12 – 2024

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VỊ THỦY, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Châu Minh Tiếp

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đông Hà

Bà Trần Thị Bé Ngọc

- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Phước Lộc – Thư ký Toà án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Ông Dương Vương - Kiểm sát viên sơ cấp.

Vào ngày 24 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 71/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:

Trần Văn Th (tên gọi khác: Không), sinh năm 1977, tại thị xã Giá Rai, Bạc Liêu; nơi ĐKTT: ấp 21, xã PhTh, thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu; Chỗ ở hiện nay: ấp 1, thị trấn NM, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ học vấn 00/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn U và bà Võ Thị B; bị cáo có vợ tên Trịnh Thị Ph; tại phiên tòa bị cáo khai có 07 người con (lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2023); Tiền án: không;

Tiền sự: 01 (một) ngày 09/6/2022 bị công an huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang xử phạt hành chính theo Quyết định số 122/QĐ-XPHC số tiền 1.500.000đ về hành vi đánh bạc trái phép, đã nộp phạt xong 09/6/2022 (chưa được xóa).

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/8/2024 cho đến nay.

Hiện bị cáo đang bị tạm giam có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Hồ Bá Th, sinh năm: 1985; Nơi cư trú: ấp 1, thị trấn Nàng Mau, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang.

2. Nguyễn Thị L, sinh năm: 1969; Nơi cư trú: ấp 1, thị trấn Nàng Mau, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang.

3. Hà Thị Kim Th, sinh năm: 1995; Nơi cư trú: ấp 1, thị trấn Nàng Mau, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang.

4. Mai Thị D, sinh năm: 1974; Nơi cư trú: ấp 1, thị trấn Nàng Mau, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang.

5. Tống Thị Ph, sinh năm: 1979; Nơi cư trú: ấp 10, xã Vị Trung, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang.

6. Thiều Thị Ph, sinh năm: 1976; Nơi cư trú: ấp 3, thị trấn Nàng Mau, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang.

7. Nguyễn Thị T, sinh năm: 1969; Nơi cư trú: ấp 1, thị trấn Nàng Mau, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang.

8. Dương Thành Ng, sinh năm: 1982; Nơi cư trú: ấp 4, thị trấn Nàng Mau, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang.

9. Nguyễn Thị T, sinh năm: 1972; Nơi cư trú: ấp 1, thị trấn Nàng Mau, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang.

10. Lưu Kim H, sinh năm: 1965; Nơi cư trú: ấp 1, thị trấn Nàng Mau, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang.

11. Lưu Kim T, sinh năm: 1966; Nơi cư trú: Khu vực 2, phường 1, thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang.

12. Võ Văn H, sinh năm: 1979; Nơi cư trú: ấp 3, thị trấn Nàng Mau, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang.

13. Nguyễn Văn Ô, sinh năm: 1963; Nơi cư trú: ấp 1, thị trấn Nàng Mau, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang.

14. Ngô Thái H, sinh năm: 1986; Nơi cư trú: ấp 1, thị trấn Nàng Mau, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 15 giờ 10 phút ngày 21/6/2022, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội Công an huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang tiến hành kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang điểm đánh bạc trái phép ăn thua bằng tiền dưới hình thức đánh bài cào 03 lá và bài binh ấn độ 06 lá tại ấp 1, thị trấn Nàng Mau, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang, gồm 15 (mười lăm) đối tượng: Hồ Bá Th, Nguyễn Thị T, Tống Thị Ph, Hà Thị Kim Th, Lưu Kim T, Lưu Kim H, Trần Văn Th, Dương Thành Ng, Thiều Thị Ph, Võ Văn H, Nguyễn Thị L, Nguyễn Văn Ô, Ngô Thái H, Mai Thị D và Nguyễn Thị T.

* Tang vật thu giữ được tại hiện trường:

- 01 (Một) bộ bài tú lơ khơ đang sử dụng.

- 01 (Một) chiếc chiếu lác đang sử dụng để người chơi đánh bạc.

- 01 (Một) điện thoại loại bàn phím màu đen đã qua sử dụng.

- 01 (Một) cọc tiền Việt Nam 400.000 đồng (Bốn trăm ngàn đồng).

* Tạm giữ trên ngƣời các đối tƣợng:

1. Võ Văn H: tiền Việt Nam 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) trong túi quần trước bên trái.

2. Hồ Bá Th: 01 (Một) điện thoại di động hiệu SamSung màu xanh đã qua sử dụng.

3. Dương Thành Ng: 01 (một) điện thoại di động hiệu SamSung màu vàng Gold bị nứt óp lưng đã qua sử dụng, tiền Việt Nam 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) trong bóp.

4. Nguyễn Văn Ô: tiền Việt Nam 120.000 đồng (Một trăm hai mươi ngàn đồng) trong túi quần bên trái.

5. Ngô Thái H: 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO Reno 4 màu xanh đã qua sử dụng, tiền Việt Nam 20.000 đồng (Hai mươi ngàn đồng).

6. Nguyễn Thị T: 01 điện thoại Nokia loại bàn phím, màu đen. Số IMEI1: 352440052310028 đã qua sử dụng, 01 điện thoại OPPO hiệu RENO 03 màu trắng hồng. Số IMEI1: 860202041562233; Số IMEI2: 860202041562225 và tiền Việt Nam: 18.810.000 đồng (Mười tám triệu tám trăm mười ngàn đồng).

7. Hà Thị Kim Th: tiền Việt Nam 2.850.000 đồng (Hai triệu tám trăm năm mươi mươi ngàn đồng).

9. Lưu Kim T: 01 (một) điện thoại di động hiệu ViVo 1181 màu xanh đã qua sử dụng, tiền Việt Nam 4.290.000 đồng (Bốn triệu hai trăm chín mươi mươi ngàn đồng).

10. Lưu Kim H: 01 (một) điện thoại hiệu KINGREAT loại bàn phím, màu đỏ, đã qua sử dụng, có số IMEI: 867694036849224 và tiền Việt Nam 8.380.000 đồng (Tám triệu ba trăm tám mươi nghìn đồng).

11. Tống Thị Ph: Tiền Viêt Nam trong nón 5.600.000 đồng (Năm triệu sáu trăm ngàn đồng), 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia loại bàn phím màu xanh đã qua sử dụng, tiền Việt Nam trong túi quần bên phải 1.100.000 đồng (Một triệu một trăm ngàn đồng).

12. Thiều Thị Ph: 01 (một) điện thoại di động SAMSUNG Galaxy A03S, màu xanh đã qua sử dụng, số IMEI1: 353515139943237; IMEI2: 356346469943234 và tiền Việt Nam: 4.600.000 đồng (bốn triệu sáu trăm ngàn đồng).

13. Mai Thị D: tiền Việt Nam trong áo sau lưng 7.500.000 đồng (Bảy triệu năm trăm ngàn đồng), 01 (Một) điện thoại hiệu SamSung Galaxy A01 màu đen đã qua sử dụng.

14. Nguyễn Thị T: 01 (Một) điện thoại hiệu SamSung màu hồng trắng đã qua sử dụng, tiền Việt Nam một cọc 10.400.000 đồng (Mười triệu bốn trăm ngàn đồng).

15. Nguyễn Thị L: tiền Việt Nam một cọc 440.000 đồng (Bốn trăm bốn mươi ngàn đồng).

* Tạm giữ xung quanh khu vực đánh bạc: 05 (năm) chiếc xe mô tô cụ thể:

1. Một (01) xe mô tô nhãn hiệu Vison màu bạc, BKS: 95C1-135.28.

2. Một (01) xe mô tô nhãn hiệu Wave Alpha, BKS: 95C1-126.97.

3. Một (01) xe mô tô nhãn hiệu Dream, màu nâu, BKS: 95C1- 087.99.

4. Một (01) xe mô tô nhãn hiệu Sirius màu đỏ đen BKS: 95B1-700.58

5. Một (01) xe mô tô nhãn hiệu màu đen BKS: 95F6-2792.

* Quá trình điều tra xác định đƣợc hành vi phạm tội và số tiền, hình thức đánh bạc của từng đối tƣợng cụ thể nhƣ sau:

1. Hà Thị Kim Th: Tham gia đánh bài cào 03 lá ăn thua bằng tiền cùng với Nguyễn Thị T và 01 số người nữa Th không nhớ tên, trong đó : Th tham gia ké tụ với Nguyễn Thị T, mỗi bàn ké 50.000 đồng (Năm mươi ngàn đồng), ăn thua với tụ cái, khi tham gia Th sử dụng 150.000 đồng vào mục đích đánh bạc, lúc bắt quả tang Th thua 150.000 đồng.

2. Nguyễn Thị L: Tham gia đánh bài binh ấn độ 06 lá và bài cào 03 lá ăn thua bằng tiền cùng với Nguyễn Thị T, Thiều Thị Ph, Tống Thị Ph, Hà Thị Kim Th, Trần Văn Th, Dương Thành Ng, Mai Thị D, Võ Văn H, Lưu Kim H và 01 số người nữa L không nhớ tên, mỗi bàn L tham gia đặt tụ 50.000 đồng (năm mươi ngàn đồng), ăn thua với tụ cái, khi tham gia Nguyễn Thị L sử dụng 540.000 đồng vào mục đích đánh bạc, kết quả lúc bắt quả tang Loan thua 100.000 đồng.

3. Trần Văn Th: Tham gia đánh bài cào 03 lá ăn thua bằng tiền cùng với Nguyễn Thị T, Dương Thành Ng, Thiều Thị Ph, Nguyễn Thị L, Lưu Kim H và 01 số người nữa Th không nhớ tên, mỗi bàn Th tham gia đặt tụ 200.000 đồng đến 300.000 đồng, ăn thua với tụ cái, khi tham gia Th sử dụng 400.000 đồng vào mục đích đánh bạc, kết quả lúc bắt quả tang Th thua 400.000 đồng.

4. Tống Thị Ph: Tham gia đánh bài cào 03 lá ăn thua bằng tiền cùng với Nguyễn Thị T, Dương Thành Ng, Mai Thị D, Thiều Thị Ph, Nguyễn Thị L, Trần Văn Th, Võ Văn H và 01 số người nữa Ph không nhớ tên, mỗi bàn Ph tham gia đặt tụ 50.000 đồng và theo tụ cái mỗi ván bài là 100.000 đồng, ăn thua với tụ cái, khi tham gia Ph sử dụng 2.000.000 đồng vào mục đích đánh bạc, kết quả lúc bắt quả tang Ph thắng 3.500.000 đồng.

5. Mai Thị D: Tham gia đánh bài cào 03 lá ăn thua bằng tiền cùng với Nguyễn Thị T, Dương Thành Ng, Thiều Thị Ph, Nguyễn Thị L, Trần Văn Th, Hà Thị Kim Th, Hồ Bá Th, Võ Văn H và 01 số người nữa không nhớ tên, mỗi bàn D tham gia ké tụ của Ph và 01 người phụ nữ không biết tên mỗi bàn ké từ 50.000 đồng -100.000 đồng, khi tham gia sử dụng 1.000.000 đồng vào mục đích đánh bạc, kết quả lúc bắt quả tang D thắng 800.000 đồng.

6. Hồ Bá Th: Tham gia đánh bài cào 03 lá ăn thua bằng tiền cùng với Nguyễn Thị T, Dương Thành Ng, Mai Thị D, Hà Thị Kim Th, Nguyễn Thị L, Trần Văn Th, Tống Thị Ph, Lưu Kim H, Lưu Kim T và 01 số người nữa không nhớ tên, mỗi bàn tham gia theo tụ cái mỗi bàn 100.000 đồng, khi tham gia sử dụng 400.000 đồng vào mục đích đánh bạc, kết quả lúc bắt quả tang Thắng thua 400.000 đồng.

7. Nguyễn Thị T: Tham gia đánh bài binh ấn độ 06 lá và bài cào 03 lá ăn thua bằng tiền cùng với Nguyễn Thị L, Thiều Thị Ph, Mai Thị D, Dương Thành Ng, Hà Thị Kim Th, Trần Văn Th, Tống Thị Ph, Lưu Kim H, Lưu Kim T, Mai Thị Ngọc Th và 01 số người nữa không nhớ tên, mỗi bàn Tuyết tham gia theo đặt tụ mỗi bàn 50.000 đồng - 100.000 đồng khi tham gia sử dụng 500.000 đồng vào mục đích đánh bạc, kết quả lúc bắt quả tang thua 200.000 đồng.

8. Dƣơng Thành Ng: Tham gia đánh bài cào 03 lá ăn thua bằng tiền, Ng đồng phạm với vai trò là người giúp sức xem bài dùm (bắt bài) cho T để tham gia đánh bài ăn thua bằng tiền cùng với Nguyễn Thị L, Hà Thị Kim Th, Tống Thị Ph, Thiều Thị Ph, Mai Thị D, Dương Thành Ng, Trần Văn Th, và 01 số người nữa không nhớ tên, mỗi bàn Ng và T tham gia theo đặt tụ mỗi bàn 50.000 đồng-100.000 đồng.

9. Thiều Thị Ph: Tham gia đánh bài cào 03 lá ăn thua bằng tiền cùng với Trần Văn Th, Nguyễn Thị L, Dương Thành Ng, Nguyễn Thị T, Hà Thị Kim Th, Hồ Bá Th, Mai Thị D, Tống Thị Ph và 01 số người nữa không nhớ tên, mỗi bàn tham gia ké tụ mà không biết tụ của ai mỗi bàn 50.000 đồng, khi tham gia Ph sử dụng 300.000 đồng vào mục đích đánh bạc, kết quả lúc bắt quả tang thua 150.000 đồng.

- Đới với số tiền của Lưu Kim T, Lưu Kim H và Võ Văn H đã nghỉ chơi trước khi Công an vào bắt quả tang sử dụng vào việc đánh bạc là 1.000.000 (Một triệu) đồng. Cụ thể: H 500.000 đồng + T 400.000 đồng + H 100.000 đồng, quá trình điều tra Cơ quan điều tra không chứng minh được hành vi tham gia đánh bạc và do tổng số tiền các đối tượng Lưu Kim T, Lưu Kim H và Võ Văn H sử dụng vào việc đánh bạc không biết tham gia cùng với ai và không đủ định lượng 5.00.000 (năm triệu) đồng nên không đủ căn cứ xử lý.

Ngoài ra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vị Thủy tiến hành làm việc một số đối tương gồm: Lê Thị H, Lưu Thị Kim M, Lê Thị Diệu L, Lê Thị Bích L, Mai Thị Ngọc Th, Nguyễn Thị Nh quá trình điều tra Cơ quan điều tra không chứng minh được hành vi tham gia đánh bạc và không có đến điểm đánh bạc.

* Tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc của: Trần Văn Th, Nguyễn Thị T, Tống Thị Ph, Mai Thị D, Thiều Thị Ph, Nguyễn Thị L, Hà Thị Kim Th, Hồ Bá Th, Dương Thanh Ng là: 11.790.000 đồng (Mười một triệu bảy trăm chín mươi ngàn đồng) cụ thể: Nguyễn Thị T 500.000 đồng, Tống Thị Ph 5.500.000 đồng, Mai Thị D 3.500.000 đồng, Thiều Thị Ph 300.000 đồng, Nguyễn Thị L 440.000 đồng, Hà Thị Kim Th 150.000 đồng, Lưu Kim T 400.000đ, Lưu Kim H 500.000đ, Võ Văn H 100.000đ tiền trên chiếu bạc 400.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 67/CT-VKS-HVT ngày 25/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vị Thủy đã truy tố bị cáo Trần Văn Th về tội “đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Văn Th phạm tội “đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Áp dụng: khoản 1 Điều 321; Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn Th mức án 04 tháng 21 ngày tù bằng với thời hạn tạm giữ, tạm giam. Miễn nộp phạt bổ sung cho bị cáo.

Xử lý vật chứng: Đã được xử lý theo bản án số 18/2023/HS-ST ngày 23/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang.

Ý kiến tự bào chữa và nói lời sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án của bị cáo tại phiên toà: Bị cáo Trần Văn Th xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt sớm về nuôi vợ, con nhỏ, cam kết từ đây về sau không tái phạm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Xét hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, của Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đối với những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, nhưng đã có lời khai tại cơ quan điều tra, trong quá trình xét xử vụ án trước đây đầy đủ, rõ ràng, bản án đã có hiệu lực pháp luật. Việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự giải quyết vắng mặt họ theo quy định.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời thừa nhận của bị cáo tại phiên tòa là hoàn toàn phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác; phù hợp với các chứng cứ, tài liệu (bản án có hiệu lực pháp luật) có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa có đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 21/6/2022 bị cáo đã cùng một số đối tượng khác đã tham gia đánh bạc trái phép ăn thua bằng tiền dưới hình thức đánh bài cào 03 lá và bài binh ấn độ 06 lá xảy ra tại ấp 1, thị trấn Nàng Mau, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang. Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra chứng minh số tiền thu giữ tại chiếu bạc và số tiền các con bạc tự khai nhận sử dụng vào mục đích đánh bạc số tiền là 12.540.000đ khác so với tổng số tiền thực tế thu giữ tại chiếu bạc và trên người các con bạc khai nhận dùng vào việc đánh bạc là 11.790.000 đồng (Mười một triệu bảy trăm chín mươi ngàn đồng) cụ thể : Nguyễn Thị T 500.000 đồng, Tống Thị Ph 5.500.000 đồng, Mai Thị D 3.500.000 đồng, Thiều Thị Ph 300.000 đồng, Nguyễn Thị L 440.000 đồng, Hà Thị Kim Th 150.000 đồng, Lưu Kim T 400.000đ, Lưu Kim H 500.000đ, Võ Văn H 100.000đ tiền trên chiếu bạc 400.000 đồng.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự, thì: “1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hay hiện vật trị giá từ 5.000.000đ đến dưới 50.000.000đ hoặc dưới 5.000.000đ nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm…” Như vậy hành vi của bị cáo Th trực tiếp cùng các đối tượng khác đánh bạc dưới hình thức như trên được ăn thua bằng tiền. Tổng số tiền thực tế dùng vào việc đánh bạc là 11.790.000đ. Từ đó Viện kiểm sát đề nghị truy tố bị cáo Th theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng điều khoản của pháp luật.

Riêng đối với các đối tượng Nguyễn Thị L, Hà Thị Kim Th, Hồ Bá Th, Mai Thị D, Thiều Thị Ph, Tống Thị Ph, Nguyễn Thị T, Dương Thành Ng đã được xử lý trước đó theo bản án phúc thẩm số 69/2023/HS-PT ngày 20/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.

Về tính chất, mức độ phạm tội và hành vi nguy hiểm cho xã hội của bị cáo:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng và an toàn công cộng, làm mất an ninh trật tự ở địa phương, là một trong những nguyên nhân dẫn đến một số hệ lụy khác trong xã hội. Bị cáo đủ sức khỏe có khả năng lao động, lẽ ra phải biết chí thú làm ăn tạo ra của cải vật chất, nhưng vì ham lợi ích, thích sát phạt ăn thua bằng tiền để có tiền một cách nhanh chóng, không phải mất nhiều công lao động nên bị cáo đã thực hiện hành vi đánh bạc nhằm mục đích thu lợi bất chính là xem thường pháp luật nên cần có mức án phù hợp với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo có như vậy mới đủ tác dụng răn đe, phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên khi lượng hình phạt có xem xét, cân nhắc đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân hoàn cảnh của bị cáo

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong vụ án này đối với bị cáo không thuộc trường hợp phải áp dụng tình tiết tăng nặng đối với bị cáo.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Bị cáo không biết chữ nên nhận thức pháp luật rất hạn chế, hiện tại phải nuôi 07 đứa con nhỏ đều chưa đến tuổi lao động nên vận dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự giảm cho bị cáo phần hình phạt thể hiện tính nhân văn, nhận đạo của pháp luật.

Về áp dụng mức hình phạt: So bị cáo với các bị cáo khác đã xét xử trước đó là ngang nhau nhưng được áp dụng hình phạt tù treo (tù có điều kiện), nhưng do bị cáo bỏ trốn phải truy nã, nên mức án áp dụng đối với bị cáo là tù giam. Tuy nhiên bị cáo đã có thời gian bị tạm giữ, tạm giam cũng đủ để cho bị cáo cảnh tính, nhận thức được việc làm sai trái pháp luật của bản thân. Do đó mức án áp dụng đối với bị cáo bằng với thời gian tạm giữ, tạm giam cũng đủ để răn đe, phòng ngùa tội phạm chung cho xã hội, phù hợp với quy định của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên miễn nộp phạt bổ sung cho bị cáo.

Về vật chứng: Đã xử lý theo bản án số 18/2023/HS-ST ngày 23/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang đã có hiệu lực pháp luật, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét lại.

Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định,

Về quyền kháng cáo: bị cáo, đương sự được quyền kháng cáo bản án theo luật định.

Chấp nhận toàn bộ quan điểm, đề nghị giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Tuyên bố bị cáo Trần Văn Th phạm tội “Đánh bạc”

[2] Về điều luật áp dụng và hình phạt:

[2.1] Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 50; điểm s, i khoản 1 khoản 2 Điều 51 Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[2.2] Xử phạt bị cáo Trần Văn Th 04 (bốn) tháng 24 (hai mươi bốn) ngày tù. Thời hạn phạt tù bằng với thời gian bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/7/2024 đến ngày 24/12/2024.

Áp dụng: khoản 5 Điều 328 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tuyên bố trả tự do cho bị cáo Trần Văn Th ngay tại phiên tòa, nếu bị cáo Th không bị tạm giam về một tội phạm khác.

[3] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 12 và Điều 23 của Nghị quyết số 326 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Trần Văn Th phải nộp án phí số tiền 200.000 đồng.

[4] Về quyền kháng cáo: bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 24/12/2024). Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ