- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Chí T - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? 1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Chí T phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 60/2024/HS-ST Ngày: 19-12-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Nông Phú.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Bùi Tấn Dũng.
2. Bà Ngô Thị Lệ Nga.
- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Thành Tâm là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Quyên - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 59/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 12 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Chí T, sinh ngày 26 tháng 01 năm 2002; Nơi sinh: Đồng Tháp; Nơi cư trú: Ấp B, xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C và bà Phan Thị T1; có vợ và 01 con; tiền án, tiền sự: Chưa có; tạm giữ: Từ ngày 07 đến ngày 16 tháng 10 năm 2024; tạm giam: Không; có mặt.
- Người tham gia tố tụng khác: Người làm chứng Nguyễn Văn H (H), Phan Thị Mỹ D (đều vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 14 giờ, ngày 07/10/2024, Nguyễn Chí T điều khiển xe mô tô biển số 66G1-321.38, của chị Phan Thị Mỹ D, để mua sữa cho con, thì gặp Nguyễn Văn H (bạn của T). H hỏi T: “Chơi không?”. Thông hiểu là H rủ sử dụng ma tuý, Thông đồng Ý, mỗi người hùn 200.000 đồng, tổng cộng 400.000 đồng. H điện thoại cho người tên T2 (không rõ họ, chữ lót) và đưa điện thoại cho T để thoả thuận và hẹn địa điểm nhận ma tuý. Khoảng 15 phút sau, T đến gần Trường M để nhận ma tuý như đã hẹn. Sau khi nhận ma tuý, T cất giấu ở vị trí gác chân xe mô tô dùng chân phải đạp lên, điều khiển xe về để cùng H sử dụng. Khi đến đoạn thuộc khóm T, thị trấn T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp thì bị lực lượng Công an bắt quả tang.
Vật chứng thu giữ:
- 01 (một) túi nylon hàn kín, bên trong có chứa tinh thể rắn nghi là ma tuý được niêm phong trong phong bì giấy, có các chữ ký ghi họ và tên Nguyễn Văn B, Huỳnh Thanh L, Nguyễn Chí T và in hình dấu tròn màu đỏ Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H.
+ 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vision, màu sơn xanh, biển số 66G1-321.38, đã qua sử dụng, do Phan Thị L1 đứng tên chủ sở hữu. Chị L1 đi làm việc ở Campuchia, giao xe cho em ruột Phan Thị Mỹ D quản lý, sử dụng. D không biết việc T mượn xe để thực hiện hành vi phạm tội, nên ngày 29/10/2024, Cơ quan điều tra Công an huyện H đã trả lại cho D.
+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Realme C65, màu đen, có gắn 01 thẻ sim Viettel số thuê bao 0326593422, đã qua sử dụng, là tài sản của T. Quá trình điều tra chứng minh không liên quan đến hành vi phạm tội, ngày 29/10/2024, Cơ quan điều tra trả lại cho T.
Tại bản kết luận giám định số 1397/KL-KTHS, ngày 09/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ, kết luận: Tinh thể rắn chứa trong 01 túi nylon hàn kín được niêm phong trong phong bì giấy nêu trên gửi đi giám định là chất ma túy, có khối lượng 0,126 gam, loại Methamphetamine.
Tại Cáo trạng truy tố số 62/CT-VKSHN ngày 08 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp; luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa, đề nghị:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự (sau đây viết tắt là BLHS), xử phạt bị cáo Nguyễn Chí T từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù về “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy mẫu tinh thể rắn còn lại sau giám định.
Đối với lời khai bị cáo T, Nguyễn Văn H là người rủ và hùn tiền mua ma tuý. Cơ quan điều tra xác minh và đối chất với Nguyễn Văn H, nhưng H không thừa nhận, ngoài ra không còn chứng cứ nào khác, chưa đủ căn cứ xử lý đối với Nguyễn Văn H.
Đối với người thanh niên tên T2 (không rõ họ, chữ lót, địa chỉ), bán ma tuý cho bị cáo T, không làm việc được, khi nào làm việc được sẽ xử lý sau.
Bị cáo T không bào chữa, tranh luận, chỉ nói lời sau cùng: Xin được giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về với gia đình, xã hội làm lại cuộc đời; không sử dụng ma túy nữa, về gia đình lo cho vợ, con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với quy định của pháp luật. Bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Chí T khai nhận hành vi của mình như nội dung Cáo trạng, phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án, chứng minh được:
Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy Methamphetamine có tổng khối lượng là 0,126 gam, nhằm mục đích để sử dụng và đã bị bắt quả tang. Do đó, đã đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Chí T phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Điều luật quy định như sau:
“Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
…c) …Methamphetamine… có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;…
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
Như vậy, Viện kiểm sát truy tố bị cáo T là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Bị cáo nhận thức được hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý các chất ma túy, gây khó khăn cho việc kiểm soát chất ma túy của Nhà nước; ảnh hưởng nghiêm trọng đến an toàn, trật tự công cộng, sức khỏe và sự phát triển lành mạnh bình thường của con người. Ma túy là chất gây nghiện, chất hướng thần, việc mua bán, sử dụng phải được cơ quan chức năng của Nhà nước cho phép. Bởi lẽ, hậu quả của việc sử dụng trái phép chất ma túy gây ra cho xã hội là rất nặng nề, nó gây tác hại lâu dài cho nòi giống, phát sinh mâu thuẫn trong cộng đồng, làm tiêu hao tiền bạc của bản thân và gia đình của người sử dụng, gây tổn hại về tình cảm, ảnh hưởng đến đạo đức, thuần phong mỹ tục lâu dài của dân tộc. Đồng thời nó còn có thể làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội, tội phạm khác như: trộm cắp, mại dâm hoặc thậm chí giết người, cướp tài sản... Do đó, cần phải có mức hình phạt tương xứng, cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định nhằm giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và có tác dụng phòng ngừa chung trong xã hội.
Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải; trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật hạn chế, có người thân là người có công cách mạng, con của bị cáo còn nhỏ (3 tuổi) cần người chăm sóc. Do đó, áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
Về trách nhiệm dân sự: Không có, nên không xem xét.
Về vật chứng: Đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp nên chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có điều kiện kinh tế nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
Các vấn đề khác Viện kiểm sát không đề cặp là có căn cứ nên chấp nhận không xem xét trong vụ án này.
Về án phí: Buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự,
1.1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Chí T phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1.2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Chí T 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ bị cáo chấp hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 07 đến ngày 16 tháng 10 năm 2024.
2. Về xử lý vật chứng, căn cứ vào điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy: Mẫu tinh thể rắn còn lại sau giám định có khối lượng 0,089 gam, được niêm phong lại trong phong bì dán giấy niêm phong ghi “Niêm phong số: 1422, ngày 07/10/2024” có đóng hình dấu tròn màu đỏ của “Phòng K - Công an tỉnh Đ” và có các chữ ký ghi họ tên: Nguyễn Văn Thắng E, Lê Minh V, Nguyễn Văn B và Nguyễn Chí T. Vật chứng do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp đang quản lý theo Biên bản giao, nhận ngày 08 tháng 11 năm 2024.
3. Về án phí, căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 và Danh mục án phí, lệ phí tòa án kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Chí T phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 19 tháng 12 năm 2024).
| Nơi nhận: -Bị cáo, bị hại (nếu có); -Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra cùng cấp; -Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp; -Cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền; -Nơi đang giam giữ bị cáo (nếu có); -Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền; -Cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương nơi giám sát, giáo dục người được hưởng án treo (nếu có); -Lưu hồ sơ vụ án, Văn phòng lưu trữ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Nông Phú |