vanban.org

Bản án 60/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình.

Tuyên xử: Cho chị Lò Thị D được ly hôn với anh Quàng Văn C. Về con chung: Chấp nhận yêu cầu của chị Dương và giao con chung là cháu Quàng Thị Bảo Châm, sinh ngày 15/10/2013 cho chị Dương trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho đến khi thành niên và có khả năng lao động hoặc có thay đổi khác. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Dương - Cương"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Đ B
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

___________
Bản án số: 60/2024/HNGĐ - ST.
Ngày: 30/09/2024.
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ B – TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lường Văn Lương;

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Quang Khải;

2. Bà Lò Thị Thanh Bình.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lò Thị Hòa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ B, tỉnh Điện Biên .

Ngày 30/9/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ B, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 169/2024/TLST – HNGĐ ngày 09/08/2024 về Ly hôn, tranh chấp nuôi con; theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59b/2024/QĐXX - ST ngày 29/08/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 47/2024/QĐST - HPT ngày 13/09/2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lò Thị D - Sinh năm 1992."vắng mặt".

Địa chỉ: Bản H L C, xã T H, huyện Đ B, tỉnh Điện Biên.

2. Bị đơn: Anh Quàng Văn C - Sinh năm 1992."vắng mặt".

Địa chỉ: Bản N K, xã T C, huyện Đ B, tỉnh Điện Biên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn đề ngày 31/7/2024 và trong quá trình tố tụng tại Tòa án nhân dân huyện Đ B, chị Lò Thị D (nguyên đơn) trình bày:

1. Về hôn nhân: Tôi và anh Cương lấy nhau có đăng ký kết hôn tại UBND xã T C, huyện Đ B, tỉnh Điện Biên từ ngày 07/12/2011. Trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn thì hai vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian, đến năm 2014 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh Cương nghiện ma túy, hai người tính tình không hợp, quan điểm sống bất đồng, thường xuyên xảy ra cãi cọ nhau và chúng tôi đã sống ly thân từ năm 2016 cho đến nay. Hiện nay không còn tình cảm vợ chồng và không còn quan tâm đến nhau. Chúng tôi đã được hai bên gia đình khuyên giải nhưng mâu thuẫn không giải quyết được mà ngày càng trầm trọng. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, vì vậy tôi làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Cương.

2. Về con chung: Chị Dương khai vợ chồng có 01 con chung là cháu Quàng Thị Bảo Châm, sinh ngày 15/10/2013.

Chị Dương có nguyện vọng được nuôi con chung và không yêu cầu anh Cương phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Tại bản tự khai của hai cháu đều có nguyện vọng được ở cùng với mẹ.

3.Về tài sản: Tài sản riêng, tài sản chung, nợ phải trả, nợ lấy về, diện tích ruộng nương: Không có.

Đối với bị đơn Quàng Văn C: Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, đã gửi thông báo thụ lý vụ án cho các đương sự, nhưng không có ý kiến gì. Sau đó Tòa án đã tiến hành giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật như: Thông báo cho các đương sự đến Tòa án để viết bản tự khai, cung cấp tài liệu chứng cứ, yêu cầu tại Tòa án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Những thủ tục thông báo này Tòa án đã gửi bảo đảm qua đường bưu điện hoặc được niêm yết theo đúng quy định của pháp luật. Nhưng bị đơn không thực hiện và cũng không có ý kiến gì.

Tại Biên bản xác nhận tình trạng hôn nhân có xác nhận của UBND xã T H đã xác định sau khi đăng ký kết hôn, đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh Cương nghiện ma túy, sau đó hai vợ chồng sống không hạnh phúc và hai vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay.

Có 01 con chung ở cùng với mẹ từ khi hai vợ chồng sống ly thân.

Về tài sản của vợ chồng thì không có gì.

- Án phí: Căn cứ Điều 147/BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVHQ 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án Nguyên đơn phải nộp 300.000đ án phí DSST.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về quan hệ pháp luật:

Căn cứ đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo của nguyên đơn chị Lò Thị D, Tòa án xác định đây là vụ án: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

.Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Dương xin ly hôn với anh Cương, anh Cương có hộ khẩu thường trú tại xã T C, huyện Đ B, tỉnh Điện Biên, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đ B theo quy định tại Khoản 1 Điều 28; Khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 39/BLTTDS.

. Về điều luật áp dụng: Chị Dương và anh Cương kết hôn năm 2011, đến năm 2024 thì chị Dương khởi kiện xin ly hôn, nên Tòa án sẽ áp dụng các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để giải quyết.

. Về quan hệ hôn nhân: Chị Dương và anh Cương lấy nhau có đăng ký kết hôn. Do vậy hôn nhân giữa hai người là hợp pháp. Quá trình chung sống do anh Cương nghiện ma túy, bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, hai người không còn quan tâm đến nhau, mặc dù đã được hai bên gia đình hào giải nhưng không có kết quả và hai người đã sống ly thân từ năm 2016 cho đến nay. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị Dương và anh Cương đang trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Chị Dương xác định tình cảm của mình đối với anh Cương không còn. Tại phiên tòa chị Dương vẫn giữ nguyên quan điểm và đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết cho chị được ly hôn với anh Cương. Hội đồng xét xử xét thấy, để đảm bảo quyền lợi của đương sự và để giải phóng cho chị Dương khỏi tình trạng hiện tại khi mà hôn nhân không thể đem lại hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Hạnh và áp dụng các Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 xử cho ly hôn giữa chị Lò Thị D và anh Quàng Văn C.

. Về con chung: Hai vợ chồng có 01 con chung là cháu Quàng Thị Bảo Châm, sinh ngày 15/10/2013.

Chị Dương có nguyện vọng được nuôi con chung và không yêu cầu anh Cương phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Tại bản tự khai của cháu Châm là có nguyện vọng được ở cùng với mẹ.

Quá trình giải quyết vụ án chị Dương có nguyện vọng là muốn được trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung.

Hội đồng xét xử xét thấy từ khi chị Dương làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn, trong quá trình giải quyết vụ án thì anh Cương không có ý kiến gì, còn cháu Châm thì có bản tự khai và có nguyện vọng là muốn được ở cùng với mẹ. Hội đồng xét xử xét thấy chị Dương và anh Cương đều có khả năng nuôi con chung, hơn thế nữa việc nuôi con là trách nhiệm, nghĩa vụ của cha mẹ. Do từ khi chị Dương làm đơn xin ly hôn thì anh Cương không có ý kiến gì, không đến Tòa án theo thông báo và triệu tập của Tòa án. Do vậy, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu và nguyện vọng của chị Dương và giao hai con chung cho chị Dương trực tiếp chăm sóc, giáo dục là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Dương không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

.Về tài sản:

. Tài sản riêng, nợ phải trả, nợ lấy về: Không có.

. Tài sản chung, diện tích ruộng, nương: Không có.

. Về án phí: Căn cứ Khoản 4 Điều 147/BLTTDS; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Chị Dương phải chịu 300.000đ án phí Dân sự sơ thẩm, chị Dương đã nộp 300.000đ theo biên lai số: 0000265 ngày 01/8/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ B.

. Đối với việc vắng mặt của nguyên đơn và bị đơn tại phiên tòa: Sau khi nhận được Quyết định đưa vụ án ra xét xử. Nguyên đơn vì lý do đi làm ăn ở xa không thu xếp được công việc, nên nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 228/BLTTDS và Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn.

Bị đơn không có ý kiến gì và cũng không tham gia các phiên họp, hòa giải và phiên tòa do Tòa án tiến hành theo quy định của pháp luật, gây cản trở hoạt động tố tụng của Tòa án và của đương sự khác. Điều này chứng tỏ bị đơn tự tước đi quyền, nghĩa vụ của mình trong thời gian giải quyết vụ án. Hơn thế nữa việc bị đơn không đến Tòa án theo giấy thông báo, triệu tập của Tòa án còn thể hiện bị đơn không tôn trọng Tòa án, không chấp hành nghiêm chỉnh quy định của pháp luật trong việc giải quyết vụ án. Tại phiên tòa hôm nay, Tòa án đã gửi quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ cho các đương sự, nhưng bị đơn vẫn vắng mặt. HĐXX căn cứ Khoản 3 Điều 228/BLTTDS, Điểm b Khoản 2 Điều 227/BLTTDS, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 28; Khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 39; Điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 1, Khoản 3 Điều 228; Khoản 1 Điều 235, Điều 264 và Điều 267/BLTTDS;

Áp dụng: Các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình.

1. Tuyên xử: Cho chị Lò Thị D được ly hôn với anh Quàng Văn C.

2. Về con chung: Chấp nhận yêu cầu của chị Dương và giao con chung là cháu Quàng Thị Bảo Châm, sinh ngày 15/10/2013 cho chị Dương trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho đến khi thành niên và có khả năng lao động hoặc có thay đổi khác.

Chấp nhận yêu cầu của chị Dương về việc không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên đương sự, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về Tài sản: Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí: Căn cứ Khoản 4 Điều 147/BLTTDS; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Chị Dương phải chịu 300.000đ án phí Dân sự sơ thẩm, chị Dương đã nộp 300.000đ theo biên lai số: 0000265 ngày 01/8/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ B, chị Dương đã nộp đủ án phí DSST.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 271, Khoản 1 Điều 273/BLTTDS; Nguyên đơn và bị đơn đều vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án chính hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND Tỉnh;

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

- VKS huyện Đ B;

- Chi cục THSDS H.ĐB;

- Các đương sự;

- UBND xã T C;

- Lưu.

Lường Văn Lương HỘI THẨM NHÂN DÂN

CHỦ TỌA

HỘI THẨM NHÂN DÂN Nguyễn Quang Khải

Lường Văn Lương

Lò Thị Thanh Bình Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND Tỉnh;

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

- VKS huyện Đ B;

- Chi cục THSDS H.ĐB;

- Các đương sự;

- UBND xã T C;

- Lưu.

Lường Văn Lương HỘI THẨM NHÂN DÂN

CHỦ TỌA

HỘI THẨM NHÂN DÂN Lò Văn Sung

Lường Văn Lương

Lò Thị Vinh Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND Tỉnh;

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

- VKS huyện Đ B;

- Chi cục THSDS H.ĐB;

- Các đương sự;

- UBND xã Thanh Minh;

- Lưu.

Lường Văn Lương HỘI THẨM NHÂN DÂN

CHỦ TỌA

HỘI THẨM NHÂN DÂN Vì Thị Xôm

Lường Văn Lương

Trần Thị Duyên Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND Tỉnh;

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

- VKS huyện Đ B;

- Chi cục THSDS H.ĐB;

- Các đương sự;

- UBND xã Pá Khoang;

- Lưu.

Lường Văn Lương HỘI THẨM NHÂN DÂN

CHỦ TỌA

HỘI THẨM NHÂN DÂN Nguyễn Đăng Hùng

Lường Văn Lương

Nguyễn Thị Phương

Cỡ chữ