vanban.org

Bản án 60/2024/DSST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Buộc bà Hồ Thị L phải có nghĩa vụ trả cho bà Lê Thị H số tiền 10.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ đối với các khoản tiền phải trả, thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự cho đến khi thi hà… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng vay"
  • Tòa quyết gì? Xử: Buộc bà Hồ Thị L phải có nghĩa vụ trả cho bà Lê Thị H số tiền 10.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án; Điều 463 Bộ luật Dân sự; Điều 466 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN H.HÒA VANG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Bản án số 60/2024/DSST
Ngày 15/3/2024
V/v“Tranh chấp
Hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Hồng Hải

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Cao Văn Truyện

Ông Tán Nghị

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Lê Mai Ly - Thư ký TAND huyện Hòa Vang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Linh – Kiểm sát viên.

Ngày 15/3/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 120/2023/TLST-DSST ngày 02/6/2023 về việc “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 87/2024/QĐXXST-DS ngày 15/01/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 77/2023/QĐST-DS ngày 15/02/2024, giữa:

*Nguyên đơn: Bà Lê Thị H, sinh năm 1946; Địa chỉ: Tổ 02, Thôn D, xã H, huyện H, Tp. Đ. Có mặt.

*Bị đơn: Bà Hồ Thị L, sinh năm 1964; Địa chỉ: Thôn Y 2, xã H, huyện H, thành phố Đ. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, quá trình tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn - bà Lê Thị H trình bày: Ngày 29/06/2019 tôi (Lê Thị H) có cho bà Hồ Thị L mượn số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) để làm nhà. Khi mượn bà Hồ Thị L có viết giấy mượn tiền và hẹn trong vòng 02 tháng sẽ trả số tiền trên. Nhưng quá hạn 02 tháng kể từ ngày mượn mà bà L vẫn không trả tiền mặc dù tôi tìm kiếm nơi cư trú của bà L nhưng bà L cố tình tránh né không chịu gặp tôi và thiếu thiện chí trả nợ. Vì vậy, tôi yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết buộc bà Hồ Thị L phải có trách nhiệm trả lại tôi số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).

* Đối với bị đơn – Bà Hồ Thị L: Mặc dù đã được Tòa án tiến hành tống đạt

hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để bà L trình bày ý kiến, tuy nhiên bà L vẫn vắng mặt không có lý do nên không có lời khai.

Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Lê Thị H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng: Những người tham gia tố tụng đã được thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” của bà Lê Thị H đối với bà Hồ Thị L. Buộc bà Hồ Thị L phải trả cho bà Lê Thị H số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng). Do bà H không yêu cầu tính lãi nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết qủa tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Theo đơn khởi kiện của bà Lê Thị H nộp tại Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng và Tòa án đã thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền được quy định tại Điều 26; Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, bị đơn bà Hồ Thị L vắng mặt lần thứ 2 nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về nội dung vụ án: Vào ngày 29/6/2019, bà Lê Thị H có cho bà Hồ Thị L mượn số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng), khi mượn bà Hồ Thị L có viết giấy mượn tiền mục đích để làm nhà và hẹn với bà H trong vòng 02 tháng kể từ ngày mượn sẽ trả số tiền trên. Nhưng quá hạn 02 tháng mà bà L vẫn chưa trả tiền mặc dù bà H tìm gặp nhưng bà L cố tình tránh né tránh trách nhiệm và không thực hiện nghĩa vụ trả nợ.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – bà Lê Thị H thì thấy:

Ngày 29/06/2019 bà Lê Thị H có cho bà Hồ Thị L mượn số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) khi mượn bà L có viết giấy mượn tiền mục đích để làm nhà và hẹn với bà H thời hạn trong vòng 02 tháng sẽ trả số tiền trên. Nhưng quá hạn 02 tháng mà bà L vẫn không trả tiền mặc dù bà H tìm gặp để yêu cầu việc trả nợ nhưng bà L luôn cố tình tránh né không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Vì vậy bà Lê Thị H đề nghị Tòa án xem xét giải quyết buộc bà Hồ Thị L trả số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).

Với chứng cứ mà nguyên đơn xuất trình là giấy mượn tiền của bà Hồ Thị L. HĐXX xét thấy số tiền bà Hồ Thị L nợ bà Lê Thị H đã lâu nhưng bà L không có thiện chí trả nợ dứt điểm cho bà H, mặc dù bà H đã nhiều lần yêu cầu trả nợ nhưng bà L vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, chây ì và dây dưa kéo dài. Vì vậy, việc bà H yêu cầu bà L trả nợ là hoàn toàn chính đáng và phù hợp, có căn cứ nên HĐXX cần chấp nhận. Do bà Lê Thị H không có yêu cầu tính lãi nên HĐXX đề cập giải quyết.

Đối với bị đơn – bà Hồ Thị L: Trong suốt quá trình Tòa án thụ lý giải quyết cũng như tại phiên tòa bà Hồ Thị L được Tòa án triệu tập, tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa để bà Hồ Thị L trình bày ý kiến cũng như tham gia tố tụng tại phiên tòa, tuy nhiên bà Hồ Thị L vẫn vắng mặt không có lý do nên không có lời khai, điều đó cũng thể hiện bà Hồ Thị L thiếu thiện chí trả nợ cho bà H nên cần buộc bà Hồ Thị L phải có nghĩa vụ trả nợ cho bà H là phù hợp với quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang tại phiên tòa là có căn cứ nên HĐXX chấp nhận.

Án phí dân sự sơ thẩm bà Hồ Thị Lộc phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 463, 466, 470 Bộ luật dân sự. Các Điều 147, 227, 228, 273 Bộ luật tố tụng dân sự. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” của nguyên đơn bà Lê Thị H đối với bị đơn bà Hồ Thị L.

Xử: Buộc bà Hồ Thị L phải có nghĩa vụ trả cho bà Lê Thị H số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ đối với các khoản tiền phải trả, thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền.

Án phí dân sự sơ thẩm 500.000 đồng bà Hồ Thị L phải chịu.

Hoàn trả lại cho bà Lê Thị H số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0000303 ngày 02/06/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.

Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết tại nơi cư trú.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ