- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Chiến phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HƯNG YÊN TỈNH HƯNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 60/2023/HSST Ngày: 08 - 12 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HƯNG YÊN, TỈNH HƯNG YÊN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đăng Khuê
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Văn Hạnh
Bà Nguyễn Thị Hệ
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Đinh Thanh Hải – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hưng Yên tỉnh Hưng Yên;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên tham gia phiên toà: Ông Lương Văn Quyết - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Nhà văn hoá xã Q, thành phố H, tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 62/2023/HSST ngày 20 tháng 11 năm 2023; theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2023/QĐXXST - HS ngày 27 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn C, sinh ngày 30 tháng 8 năm 1988; Nơi cư trú: Thôn L, xã H, huyện K, tỉnh Hưng Yên; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1965 và bà Bùi Thị T, sinh năm 1972; Bị cáo có vợ tên là Dương Thị H1 (đã ly hôn) và có 02 con lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2012.
Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 12/01/2007 bị Tòa án nhân dân huyện Kim Động, xử 09 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo chấp hành xong án phạt tù ngày 12/06/2007. Ngày 21/6/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Kim Động ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian 01 năm 03 tháng bị cáo chấp hành xong ngày 24/9/2020. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/8/2023. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố H. (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1965; Địa chỉ: Thôn L, xã H, huyện K, tỉnh Hưng Yên. (vắng mặt).
- Người làm chứng: Ông Nguyễn Hoàng V, sinh năm 1965; Địa chỉ: Thôn B, xã Q, thành phố H, tỉnh Hưng Yên. (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi hồi 07 giờ 10 phút ngày 31/8/2023, tại khu vực ngã tư đường P giao nhau với đường Đ thuộc phường L, thành phố H, tỉnh Hưng Yên. Tổ công tác Công an xã Q, thành phố H, bắt quả tang Nguyễn Văn C, sinh năm 1988, trú tại thôn L, xã H, huyện K, tỉnh Hưng Yên đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Nguyễn Văn C tự nguyện giao nộp từ lòng bàn tay phải 02 gói giấy bạc màu vàng, bên trong đều chứa chất màu trắng, dạng cục và bột. C khai nhận chất rắn màu trắng dạng cục và bột là ma túy, loại Heroine, mục đích cất giấu để tìm nơi sử dụng. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng thu giữ theo quy định và đưa C về trụ sở Công an để làm việc.
Quá trình điều tra Nguyễn Văn C khai nhận: Khoảng 6 giờ 20 ngày 31/8/2023, C điều khiển xe mô tô, BKS: 29P3 - 7184 từ nhà ở thôn L, xã H đến Trung tâm uống thuốc cai nghiện thay thế Methanol thuộc địa bàn phường L, thành phố H. Tại đây, C gặp bạn nghiện tên Đ (không biết rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể), chỉ biết nhà Đ ở phường M, thành phố H, đi xe Vision, màu đen, không nhớ biển kiểm soát, dáng người gầy khoảng 40 tuổi. Khi gặp Đ nói: “đi làm tí không”, C hiểu ý Đ rủ đi chơi heroin nên C đồng ý và đi theo Đ đến khu vực ngã tư đường P giao nhau với đường Đ thuộc phường L thì dừng lại, Đ đưa cho C 02 gói giấy bạc màu vàng, C mở ra xem thấy bên trong đều có chứa màu trắng dạng cục và bột, do là người nghiện ma túy nên C biết đây là heroin. Đ bảo C đứng đợi để Đ đi mua nước cất và xi lanh về sử dụng. Khi Đ đi được một lúc thì C bị lực lượng Công an xã Q bắt quả tang.
Vật chứng thu giữ: 02 gói giấy bạc màu vàng, bên trong có chứa chất rắn màu trắng dạng cục và bột; 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ, BKS: 29P3 - 7184.
Ngày 31/8/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố H khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn C tại thôn L, xã H, huyện K, tỉnh Hưng Yên. Quá trình khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Kết luận giám định số 508/KL - KTHS(MT) ngày 03/9/2023 của Phòng K
- Công an tỉnh H kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong, có tổng khối lượng là: 0,340g (Không phẩy ba bốn không gam), là ma túy, loại heroine. H2 lại trong một niêm phong ghi số 508/KL - KTHS(MT), bên trong có 0,323g (Không phẩy ba hai ba gam) ma túy, loại heroine; 02 mảnh giấy gói ma túy; 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định.
Tại bản Cáo trạng số 63/CT - VKS - TPHY ngày 20/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, đồng ý với bản Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên đã truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để sớm trở về xã hội làm người có ích cho gia đình.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Nguyễn Văn H trình bày chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ, BKS: 29P3 – 7184 là xe của ông từ lâu, nguồn gốc chiếc xe do anh T1 là cháu ông ở T, T cho ông, đến nay ông vẫn chưa làm thủ tục sang tên. Sáng ngày 31/8/2023 ông cho anh C mượn xe, ông không biết C mượn xe làm gì, ông đề nghị xin lại chiếc xe trên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên luận tội giữ nguyên quyết định đã truy tố hành vi phạm tội của bị cáo theo bản Cáo trạng, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu gửi giám định của Phòng K - Công an tỉnh H số 508/KL - KTHS(MT), bên trong có 0,323g (Không phẩy ba hai ba gam) ma túy, loại heroine; 02 mảnh giấy gói ma túy; 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định; Đối với 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda wave, màu đỏ, BKS: 29P3 - 7184, đề nghị trả lại cho ông H. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về tố tụng, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H. Điều tra viên, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án đã được triệu tập hợp lệ, nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Toà án căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự để xét xử vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo và các điều luật áp dụng: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên toà như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang hồi 7 giờ 10 phút ngày 31/8/2023 (BL 29). Bản kết luận giám định số: 508/KL - KTHS(MT) ngày 03/9/2023 của Phòng K - Công an tỉnh H (bút lục 39). Phù hợp với lời khai của người chứng kiến ông Nguyễn Hoàng V (bút lục 79 - 80) và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, nên có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 07 giờ 10 phút ngày 31/8/2023, tại khu vực ngã tư đường P giao nhau với đường Đ thuộc phường L, thành phố H, tỉnh Hưng Yên, Nguyễn Văn C có hành vi tàng trữ trái phép 0,340g (Không phẩy ba bốn không gam) H3 để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang. Hành vi của bị cáo thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn C theo tội danh và điều luật nêu trên là đúng pháp luật.
. Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
+ Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
+ Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, sẽ được HĐXX áp dụng khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Về quyết định hình phạt:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý về các chất ma túy của Nhà nước, bản thân bị cáo là người nghiện ma túy, hiểu rất rõ tác hại của chất ma túy nhưng bị cáo bất chấp quy định của pháp luật đã thực hiện hành vi phạm tội, đây là nguyên nhân, mầm mống lây truyền căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS, đồng thời cũng là nguồn gốc phát sinh các loại tội phạm khác. Căn cứ tính chất mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy, bị cáo không có tình tiết tăng nặng, về nhân thân ngày 12/01/2007 bị Tòa án nhân dân huyện Kim Động, xử 09 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo chấp hành xong án phạt tù ngày 12/06/2007. Ngày 21/6/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Kim Động ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian 01 năm 03 tháng bị cáo chấp hành xong ngày 24/9/2020. Nay lại cố ý phạm tội, do vậy, cần có mức án nghiêm tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo nhằm cải tạo và giáo dục bị cáo, răn đe phòng ngừa chung, nên cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về biện xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định của Phòng K - Công an tỉnh H số 508/KL - KTHS(MT), bên trong có 0,323g (Không phẩy ba hai ba gam) ma túy, loại H3; 02 mảnh giấy gói ma túy; 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định.
Đối với 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ, BKS: 29P3 – 7184; số máy HC09E0004433, số khung: RLHHC 09013Y003704 đứng tên chủ xe là anh Quách Văn T2 địa chỉ D T, quận T, thành phố Hà Nội đã cho ông H là chú anh T2 cách đây gần 20 năm, khi cho hai bên không làm thủ tục sang tên. Sáng ngày 31/8/2023 bị cáo C hỏi mượn của ông H, C không nói cho ông H biết đi đâu, ông H không biết C sử dụng chiếc xe mô tô trên để đi mua ma túy nên trả lại cho ông Nguyễn Văn H do không liên quan tới hành vi phạm tội.
Đối với người đàn ông đã đưa ma túy cho Nguyễn Văn C. Quá trình điều tra, C khai người này tên Đ, khoảng ngoài 40 tuổi, dáng người gầy, nhà ở phường M, là người cùng uống thuốc Methadone và mới quen trước đó vài tháng, C không biết Đ lấy ma túy ở đâu, khi đưa cho C không có ai biết, chứng kiến. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại Công an phường M và Bệnh viện bệnh nhiệt đới tỉnh H, kết quả không có đối tượng nào tên Đ có hộ khẩu thường trú tại phường M là người nghiện ma túy, hiện đang sử dụng thuốc Methadone tại Bệnh viện B nhiệt đới tỉnh Hưng Yên. Do đó Cơ quan điều tra không xác minh được người đàn ông tên Đ là ai nên không có căn cứ để xử lý là có căn cứ.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Khoản 2 Điều 136, của Bộ luật Tố tụng hình sự. Điểm b khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn C 02 (hai) năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 31/8/2023.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định của phòng K - Công an tỉnh H số 508/KL - KTHS(MT), bên trong có 0,323g (Không phẩy ba hai ba gam) ma túy, loại H3; 02 mảnh giấy gói ma túy; 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định.
- Trả lại cho ông Nguyễn Văn H sinh năm 1965; Địa chỉ: Thôn L, xã H, huyện K, tỉnh Hưng Yên 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ, BKS: 29P3 - 7184, số máy 0004433, số khung: 003704.
(Số lượng, chủng loại, đặc điểm, tình trạng vật chứng theo quyết định chuyển vật chứng số 54/QĐ - VKS - TPHY ngày 20 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên).
4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn C phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - TAND tỉnh Hưng Yên (phòng KTNV); - VKSND tỉnh Hưng Yên; - VKSND TP. Hưng Yên; - CATP Hưng Yên; - Cơ quan THA hình sự & dân sự TP HưngYên. - Lưu: Hồ sơ vụ án, VP. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đăng Khuê |