vanban.org

Bản án 60/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 16/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ: Điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ Luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[2] Tuyên bố: Bị cáo Hàng Quang V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. [3] Xử phạt: Bị cáo Hàng Quang V mức án 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt ngày 08/02/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hàng Quang V - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ: Điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ Luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TP
TỈNH BÌNH TH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2023/HS-ST
Ngày 16-6-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NH N D N HUYỆN TP, TỈNH BÌNH THU N

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bích Thị Kim Pháp

Các Hội thẩm nhân dân: + Bà Nguyễn Thị Bích Lam

+ Ông Phạm Văn Minh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện TP.

- Đ i di n Vi n ki m sát nhân dân huy n TP tham gia phiên tòa: Ông Trương Vĩnh V - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 6 năm 2023 tại trụ s Tòa án nhân dân huyện TP xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 43/2023/TLST-HS ngày 11 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2023/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2023, đối với bị cáo:

Hàng Quang V; Sinh ngày: 11/4/2004 tại tỉnh Bình Th.

Nơi cư trú: Khu phố 5, thị trấn LH, huyện TP, tỉnh Bình Th; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hàng Th và bà Trần Thị Thu Ng; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị bắt tạm giam từ ngày 08/02/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an huyện TP (có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Trần Thị Thu Ng, sinh năm 1982; Nơi cư trú: Khu phố 5, thị trấn LH, huyện TP, tỉnh Bình Th (có mặt)

- Người làm chứng: Đặng Thị Mỹ Tsinh ngày 20/6/2005; Nơi cư trú: Khu phố 5, thị trấn LH, huyện TP, tỉnh Bình Th (có mặt)

- Người đại diện hợp pháp cho Đặng Thị Mỹ T: Đặng Hùng, sinh năm 1979; Nơi cư trú: Khu phố 5, thị trấn LH, huyện TP, tỉnh Bình Th (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hàng Quang V, sinh ngày 11/4/2004, trú tại khu phố 5, thị trấn LH, huyện TP, tỉnh Bình Th là đối tượng nghiện ma túy. Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên vào khoảng 17 giờ ngày 08/02/2023 V sử dụng tài khoản Messenger tên “Hàng Quang V” gọi đến tài khoản Messenger tên “Lâm Nhóc” của người thanh niên tên Lâm hỏi mua 1.500.000 đồng MDMA và Ketamine, Lâm đồng ý và hẹn V đến khu vực Cây dừa thuộc thôn Phú Điền, xã Phú Lạc, huyện TP để giao nhận ma túy. Sau khi nhận ma túy thì V cất giấu trong người. Đến khoảng 18 giờ 15 phút ngày 08/02/2023 V điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu đỏ - đen biển số 86B1-553.93 cầm theo số ma túy vừa mua được ch Đặng Thị Mỹ T đi đến khu vực quán Karaoke Linh Vũ thuộc khu phố 4, thị trấn LH, huyện TP thì bị Tổ công tác Đồn Biên Phòng cửa khẩu cảng LH phối hợp với Công an thị trấn LH, huyện TP kiểm tra phát hiện bắt quả tang Hàng Quang V có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Tang vật thu giữ bao gồm: Thu giữ trên nền đất nơi V đang đứng 01 gói nylon không màu được hàn kín có khóa kéo một đầu, kích thước 5,2cm x 4,0cm. Bên trong có chứa 02 viên nén màu hồng hình tam giác cắt vát hai góc có kích thước các cạnh 01cm (được ký hiệu giám định là mẫu M1) và 02 gói nylon được hàn kín một đầu, đầu còn lại có khóa kéo chứa tinh thể màu trắng, trong đó 01 gói có kích thước 03cm x 02cm, 01 gói có kích thước 03cm x 1,8cm (được ký hiệu giám định là mẫu M2). V khai nhận 02 viên nén màu hồng hình tam giác cắt vát hai góc là ma túy dạng MDMA và tinh thể màu trắng bên trong 02 gói nylon là ma túy dạng Ketamine, đây là ma túy của V mua được từ một người thanh niên tên Lâm thôn Phú Điền, xã Phú Lạc, huyện TP với giá 1.500.000 đồng, sau khi mua được ma túy, V cất giấu trong người mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang, khi bị bắt V vứt bỏ ma túy xuống đất; Thu giữ của Hàng Quang V 01 điện thoại di động hiệu Iphone Xs màu vàng gold; số tiền 300.000 đồng và 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu đỏ - đen biển số 86B1-553.93.

T i bản kết luận giám định về ma túy số 173/KL-KTHS ngày 14/02/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Th kết luận:

Mẫu M1 gửi đến giám định có khối lượng 1,0635 gam là MDMA.

Mẫu M2 gửi đến giám định có khối lượng 0,4906 gam là Ketamine.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nêu trên.

Về tang vật chứng: Đã chuyển vào tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự huyện TP 300.000 đồng thu giữ của Hàng Quang V. Đã chuyển vào kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện TP toàn bộ mẫu vật được hoàn lại sau giám định gồm: 0,7139 gam mẫu M1 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 173/1 có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo Nguyên và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Th; 02 gói nylon không màu, một đầu có khóa kéo và 0,4569 gam mẫu M2 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 173/2 có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo Nguyên và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Th và 01 điện thoại di động hiệu Iphone Xs màu vàng gold.

Đối với 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu đỏ - đen biển số 86B1- 553.93 thu giữ của Hàng Quang V, đây là xe mô tô của Trần Thị Thu Ng (mẹ ruột của V) cho V mượn để sử dụng. Do bà Ng không biết V sử dụng xe mô tô vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra Công an huyện TP đã trả lại 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu đỏ - đen biển số 86B1- 553.93 cho Ng là chủ s hữu theo quy định của Pháp luật.

T i phiên tòa sơ thẩm:

kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TP: Vẫn giữ nguyên quyết định truy tố theo Cáo trạng số: 57/CT-VKSTP-HS ngày 10/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện TP.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố: Bị cáo Hàng Quang V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- Căn cứ: Điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ Luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- Xử phạt: Bị cáo Hàng Quang V mức án từ 12 đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt ngày 08/02/2023.

- Biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy 0,7139 gam mẫu M1 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 173/1; 02 gói nylon không màu, một đầu có khóa kéo; 0,4569 gam mẫu M2 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 173/2.

Là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng.

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone Xs màu vàng gold, đã qua sử dụng, do đây là công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội.

- Đối với 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu đỏ đen biển số: 86B1-553.93 là tài sản của Trần Thị Thu Ng cho V mượn để sử dụng, bà Ng không biết việc V sử dụng xe mô tô dùng vào việc phạm tội nên Cơ quan CSĐT Công an huyện TP đã xử lý (trả lại cho chủ s hữu là Trần Thị Thu Ng) là phù hợp.

- Đối với số tiền 300.000 đồng thu giữ của Hàng Quang V, xét thấy đây là tiền của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án. Số tiền còn lại sau thi hành án sẽ được trả lại cho bị cáo.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/5/2023 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện TP và Chi cục thi hành án dân sự huyện TP).

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không tranh luận và đồng ý với quyết định truy tố của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TP.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất hối hận, nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được tr về với gia đình và xã hội.

Căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ s xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Viện kiểm sát, bị cáo.

NH N ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện TP: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật.

[2] Về chứng cứ buộc tội bị cáo: Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Hàng Quang V thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu, bị cáo khẳng định những lời khai của mình trong quá trình điều tra vụ án là hoàn toàn tự nguyện, không bị bức cung, ép cung và cáo trạng truy tố là hoàn toàn đúng, không oan. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Kết quả giám định chất ma tuý;... Như vậy, có đủ cơ s kết luận:

Khoảng 18 giờ 15 phút ngày 08/02/2023, Hàng Quang V điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu đỏ đen, biển số 86B1-553.93 ch Đặng Thị Mỹ T đến khu vực quán karaoke Linh Vũ thuộc Khu phố 4, thị trấn LH, huyện TP thì bị Tổ công tác Đồn biên phòng cửa khẩu cảng LH phối hợp với Công an thị trấn LH, huyện TP kiểm tra phát hiện bắt quả tang V có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ trên nền đất nơi V đang đứng một gói nylon không màu được hàn kín có khóa kéo một đầu, kích thước 5,2 cm x 4,0 cm, bên trong có chứa 02 viên nén màu hồng hình tam giác cắt vát hai góc có kích thước các cạnh 01cm và 02 gói nylon được hàn kín một đầu, đầu còn lại có khóa kéo chứa tinh thể màu trắng. Tại bản kết luận giám định về ma túy số: 173/KL-KTHS ngày 14/02/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Th kết luận 02 viên nén màu hồng hình tam giác cắt vát hai góc là MDMA, có khối lượng 1,0635 gam và 02 gói nylon chứa tinh thể màu trắng là Ketamine, có khối lượng 0,4906 gam.

Xét thấy, bị cáo V là đối tượng nghiện ma túy, mục đích tàng trữ trái phép chất ma túy là để sử dụng cho cá nhân, ngoài ra không có mục đích nào khác. Do V tàng trữ hai chất ma túy không được quy định trong cùng một điểm thuộc các khoản của Điều 249 Bộ luật Hình sự, hai chất ma túy đều có khối lượng dưới mức tối thiểu đối với từng chất theo quy định tại khoản 2 và có 01 chất ma túy có khối lượng thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 249 BLHS, vì vậy áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị quyết số: 19/2018/NĐ-CP để tính tổng khối lượng của hai chất ma túy này như sau:

- Tỷ lệ phần trăm về khối lượng của MDMA so với mức tối thiểu đối với MDMA được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 BLHS là 21,27% (1,0635 gam so với 5 gam)

- Tỷ lệ phần trăm về khối lượng của Ketamine so với mức tối thiểu đối với Katemine được quy định tại điểm l khoản 2 Điều 249 BLHS là 2,45% (0,4906 gam so với 20 gam)

Từ đó tính được tổng tỷ lệ phần trăm về khối lượng của các chất ma túy là 23,72% (dưới 100%) nên tổng khối lượng của các chất ma túy thuộc trường hợp quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Vì vậy, Cáo trạng số: 57/CT-VKSTP-HS ngày 10/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện TP, truy tố bị cáo Hàng Quang V về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và mức hình phạt:

Ma tuý là chất gây nghiện đã được ghi nhận trong danh mục các chất ma túy do Chính Phủ ban hành và quản lý. Việc tàng trữ trái phép chất ma túy là xâm hại đến chế độ quản lý độc quyền về ma túy của Nhà nước, ảnh hư ng nghiêm trọng đến an toàn, trật tự công cộng, sức khỏe và sự phát triển bền vững của xã hội. Ma túy là một trong những nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội, các căn bệnh thế kỷ, làm lây truyền vi rút gây bệnh khó chữa, ảnh hư ng xấu đến sức khỏe và sự phát triển giống nòi của dân tộc. Bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, mặc dù biết rõ tác hại của ma túy cũng như mức độ nguy hiểm, hậu quả của hành vi do mình thực hiện nhưng bị cáo vẫn coi thường pháp luật, bất chấp hậu quả, thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho bản thân.

Do đó, Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định, để có đủ thời gian cải tạo giáo dục bị cáo tr thành người tốt, công dân có ích cho xã hội đồng thời để bảo vệ tính nghiêm minh của pháp luật hình sự Việt Nam.

[4] Các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, nên cần xem xét chiếu cố khi xử lý, để giảm nhẹ cho bị cáo một phần trong mức hình phạt thể hiện tính nhân đạo của pháp luật Nhà nước Xã hội chủ nghĩa.

[5] Biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy 0,7139 gam mẫu M1 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 173/1; 02 gói nylon không màu, một đầu có khóa kéo; 0,4569 gam mẫu M2 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 173/2.

Là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng.

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone Xs màu vàng gold, đã qua sử dụng, do đây là công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội.

- Đối với 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu đỏ đen biển số: 86B1-553.93 là tài sản của Trần Thị Thu Ng cho V mượn để sử dụng. Bà Ng không biết việc bị cáo V sử dụng xe mô tô dùng vào việc phạm tội nên Cơ quan CSĐT Công an huyện TP đã xử lý (trả lại cho chủ s hữu là Trần Thị Thu Ng) là phù hợp.

- Đối với số tiền 300.000 đồng thu giữ của Hàng Quang V, xét thấy đây là tiền của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án. Số tiền còn lại sau thi hành án sẽ được trả lại cho bị cáo.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/5/2023 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện TP và Chi cục thi hành án dân sự huyện TP và Biên lai thu tiền số: 0001735 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện TP cấp ngày 20/4/2023).

[6] Đối với người thanh niên tên Lâm đã bán ma túy cho Hàng Quang V do chưa rõ lai lịch nên sẽ tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[8] Đối với quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TP tại phiên tòa là có căn cứ phù hợp với nhận định như trên, nên được chấp nhận toàn bộ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ: Điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ Luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[2] Tuyên bố: Bị cáo Hàng Quang V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

[3] Xử phạt: Bị cáo Hàng Quang V mức án 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt ngày 08/02/2023.

[4] Biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy 0,7136 gam mẫu M1 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 173/1; 02 gói nylon không màu, một đầu có khóa kéo; 0,4569 gam mẫu M2 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 173/2.

Là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng.

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone Xs màu vàng gold, đã qua sử dụng, do đây là công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội.

- Đối với số tiền 300.000 đồng thu giữ của Hàng Quang V, xét thấy đây là tiền của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án. Số tiền còn lại sau thi hành án sẽ được trả lại cho bị cáo.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/5/2023 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện TP và Chi cục thi hành án dân sự huyện TP và Biên lai thu tiền số: 0001735 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện TP cấp ngày 20/4/2023).

[5] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Hàng Quang V phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[6] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Bị cáo Hàng Quang V có quyền kháng cáo đối với bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 16/6/2023). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Án xử công khai có mặt bị cáo./.

Cỡ chữ