- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 20…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lưu Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 60/2023/HS-ST Ngày 23/5/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lý Thị Nhân và bà Lê Thị Thảo
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hoàng Tân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Trần Hà Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 50/2023/TLST-HS, ngày 20 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2023/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:
Lưu Văn H, sinh ngày 02/01/1990 tại tỉnh Tuyên Quang.
Nơi ĐKHKTT, chỗ ở: Thôn X, xã T, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang;
Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam;tôn giáo: không; trình độ học vấn: 09/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Lưu Đình Chi (đã chết) và bà Đinh Thị Hằng, sinh năm 1962; vợ: Nguyễn Thu Hiền, sinh năm 1994 (đã ly hôn); con có 01 con sinh năm 2014.
- Tiền án, tiền sự: Không
* Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/01/2023 đến nay, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Tuyên Quang. (có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 17 giờ 45 phút ngày 05/01/2023, Lưu Văn H, trú tại Thôn X, xã T, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang một mình điều khiển xe mô tô biển số 22K1-1738 (xe mượn của Lưu Văn Dũng, trú cùng thôn) đi từ nhà đến khu vực ngã tư đèn xanh đèn đỏ, thuộc tổ dân phố 05 phường Nông Tiến, thành phố Tuyên Quang để tìm mua ma túy đá (Methamphetamine) về sử dụng, tại đây Hậu gặp và mua được từ người đàn ông tên Hải (không xác định được họ, tên đệm, địa chỉ) 01 gói ma túy đá gói bên ngoài bằng lớp nilông màu trắng với giá 200.000đồng. Mua xong Hậu cho gói ma túy vào túi áo khoác bên trái đang mặc rồi điều khiển xe mô tô đi về, khi đến khu vực tổ dân phố 12, phường Tân Hà, thành phố Tuyên Quang thì bị tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an thành phố Tuyên Quang bắt quả tang hồi 19 giờ 30 phút cùng ngày. Tổ công tác tiến hành thu giữ, niêm phong vật chứng và xét nghiệm tìm chất ma tuý đối với Lưu Văn H, kết quả (+) dương tính, có chất ma tuý trong cơ thể (Hậu khai sử dụng ma túy đá ngày 04/01/2023, nguồn gốc ma túy mua của người đàn ông tên Hải).
Kết luận giám định số 136/KL-KTHS ngày 09/01/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang kết luận. Mẫu vật thu giữ của Lưu Văn H gửi giám định là chất ma tuý, loại Methamphetamine, khối lượng 0,182g (Không phẩy một tám hai gam).
Vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 (một) phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, mặt sau trên các mép dán có chữ ký của Lưu Văn H, các thành phần tham gia và hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, bên trong có chứa 0,132 gam Methamphetamine (số còn lại sau khi lấy mẫu giám định); 01 xe mô tô biển số 22K1-1738. Ngày 20/01/2023, Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô cho chủ sở hữu Lưu Văn Dũng.
Từ nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 60/CT-VKSTP ngày 19 tháng 4 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang đã truy tố bị cáo Lưu Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, kết thúc phần xét hỏi, Kiểm sát viên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lưu Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Lưu Văn H từ 01 năm tù đến 01 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 05/01/2023. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo; xử lý vật chứng (tịch thu, tiêu hủy số Methamphetamine còn lại sau giám định). Ngày 20/01/2023 Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô cho chủ sở hữu Lưu Văn Dũng 01 xe mô tô biển số 22K1-1738, nên đề nghị HĐXX không xem xét giải quyết. Tuyên án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo cho bị cáo Lưu Văn H theo quy định của pháp luật.
Trong quá trình điều tra, bị cáo Lưu Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Tại phiên tòa, bị cáo tiếp tục nhận tội, nội dung khai báo của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, không có tình tiết gì mới; bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Tuyên Quang; bị cáo nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, không có ý kiến tranh luận và cũng không có ý kiến gì để bào chữa cho hành vi phạm tội của mình.
Kết thúc phần tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố các Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn khi thực hành quyền công tố. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Lưu Văn H thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, từ chứng cứ nêu trên có đủ cơ sở kết luận: Hồi 19 giờ 30 phút ngày 05/01/2023, tại tổ dân phố 12, phường Tân Hà, thành phố Tuyên Quang, Lưu Văn H, trú tại Thôn X, xã T, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,182g (Không phẩy một tám hai gam) Methamphetamine, mục đích để sử dụng.
Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, cố ý thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý, mục đích để sử dụng cho nhu cầu nghiện ma túy của bản thân. Do vậy Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lưu Văn H không có tình tiết tăng nặng.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, gia đình bị cáo có ông ngoại là Đinh Văn Khiên được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
. Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, gây mất trật tự trị an tại địa phương và là một trong những nguyên nhân thường gây ra các tội phạm, tệ nạn xã hội khác. Vì vậy cần phải có mức hình phạt tù nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo tại cơ sở giam giữ một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời góp phần vào công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.
Căn cứ tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, khối lượng chất ma tuý mà bị cáo tàng trữ, cũng như nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo. Hội đồng xét xử thấy mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp, có căn cứ.
. Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo nghề nghiệp và thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
. Về vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 (một) phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, mặt sau trên các mép dán có chữ ký của Lưu Văn H, các thành phần tham gia và hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, bên trong có chứa 0,132 gam Methamphetamine (số còn lại sau khi lấy mẫu giám định) đây là vật chứng của vụ án thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 xe mô tô biển số 22K1-1738. Ngày 20/01/2023, Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô cho chủ sở hữu Lưu Văn Dũng, nên HĐXX không xem xét giải quyết.
. Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lưu Văn H, Công an thành phố Tuyên Quang đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính tại Quyết định số 001444 ngày 04/02/2023, hình thức phạt tiền1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng).
Đối với người đàn ông theo Hậu khai nhận tên Hải, là người bán Heroine cho Hậu nhưng không xác định được tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ điều tra xử lý.
Đối với Lưu Văn Dũng cho Lưu Văn H mượn xe mô tô biển số 22K1-1738 nhưng không biết Hậu sử dụng để đi mua ma túy về sử dụng nên không xem xét xử lý.
. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
- Tuyên bố: Bị cáo Lưu Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Xử phạt: Bị cáo Lưu Văn H 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 05/01/2023.
2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu huỷ 0,132gam (không phẩy một ba hai gam) ma túy, loại Methamphetamine (số còn lại sau giám định), được niêm phong trong một phong bì giấy còn nguyên vẹn, mặt trước ghi: “Tang vật vụ Lưu Văn H, giám định ngày 05/01/2023”, mặt sau tại các mép dán của phong bì niêm phong, có chữ ký của Lưu Văn H cùng thành phần tham gia giám định và 05 (năm) hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Tuyên Quang.
Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố Tuyên Quang và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang ngày 04/5/2023).
3. Căn cứ khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Về án phí: Buộc bị cáo Lưu Văn H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo Lưu Văn H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./. Nơi nhận:
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Tuyên Quang;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Tuyên Quang;
- Công an tỉnh Tuyên Quang;
- Sở Tư pháp tỉnh Tuyên Quang;
- VKSND TP Tuyên Quang;
- Công an TP Tuyên Quang;
- Chi cục THA.DS TP. Tuyên Quang;
- Bị cáo;
- Hồ sơ vụ án hình sự + Lưu HS
Nguyễn Thị Thu Hà
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Lê Thị Thảo – Lý Thị Nhân
Nguyễn Thị Thu Hà
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND tỉnh Tuyên Quang; - Công an tỉnh Tuyên Quang; - Sở Tư pháp tỉnh Tuyên Quang; - VKSND TP Tuyên Quang; - Công an TP Tuyên Quang; - Chi cục THA.DS TP. Tuyên Quang; - Bị cáo; - Hồ sơ vụ án hình sự + Lưu HS | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hà |