- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đào Đình K - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đào Đình K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 60/2023/HS-ST Ngày 11-5-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên Toà: Bà Nguyễn Thị Thanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hoàng Văn Đức
2. Bà Tô Thị Thanh Tâm
- Thư ký phiên Tòa: Bà Mai Thị Quyên, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình tham gia phiên Tòa: Bà Ngô Thị Hương, Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 5 năm 2023 trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 60/2023/TLST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2023/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo: Đào Đình K, sinh ngày 25/12/1980 tại Thái Bình; nơi cư trú: Số nhà 07, ngõ 82, đường Bùi ST, tổ 15, phường Tiền Phong, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệ p: Lao độ ng tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộ c: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quố c tị ch: Việ t Nam; con ông Đào H và bà Đinh Thị T; có vợ là Nguyễn Thị L (Đã ly hôn) và 01 con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Quyết định số 1963/QĐ-UBND ngày 09/8/2010 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Thái Bình áp dụng biện pháp đưa vào Trung tâm Chữa bệnh- Giáo dục- Lao động xã hội thời hạn 12 tháng, chấp hành xong ngày 27/12/2011; quyết định số 08/QĐ-TA ngày 17/3/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 12 tháng, chấp hành xong ngày 24/02/2017; bản án số 193/2012/HSST ngày 27/11/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/9/2014, chấp hành xong án phí ngày 01/4/2013; bản án số 02/2018/HSST ngày 04/01/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/02/2019, chấp hành xong án phí ngày 25/4/2018; bản án số 200/2019/HSST ngày 29/11/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/02/2021, chấp hành xong án phí ngày 07/01/2020. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/3/2023 đến ngày 14/3/2023 chuyển tạm giam đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố Thái Bình (có mặt).
Người chứng kiến:
1. Anh Trần Ngọc T, sinh năm 1979 (vắng mặt). Nơi cư trú: Số nhà 19, ngỗ 227, đường LQĐ, tổ 4, phường BX, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.
2. Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1985. Nơi cư trú: Số nhà 56, ngõ 96, đường BX, tổ 4, phường BX, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).
NỘ I DUNG VỤ Á N:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên Tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 10/3/2023, Đào Đình K đi xe ôm từ nhà đến khu vực chợ Bồ Xuyên, tổ 04, phường Bồ Xuyên, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình thì xuống xe trả tiền xe ôm rồi đi bộ vào một ngõ nhỏ gặp và mua được của một người nam giới khoảng 50 tuổi không biết tên, địa chỉ 02 gói ma túy, loại Heroin với giá 200.000 đồng. Sau đó K cầm 02 gói ma túy trong lòng bàn tay phải rồi đi bộ tìm chỗ để sử dụng. Khoảng 22 giờ cùng ngày, khi K đi đến khu vực trước cửa số nhà 10, chợ Bồ Xuyên, tổ 04, phường Bồ Xuyên, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình thì bị tổ công tác của Công an phường Bồ Xuyên, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình phát hiện. Tại đây, trước sự chứng kiến của anh Nguyễn Văn T và anh Trần Ngọc T1, K đã tự giác đưa từ lòng bàn tay phải của mình ra giao nộp cho tổ công tác 02 gói bên ngoài đều được gói bằng giấy bạc màu trắng, bên trong cả hai gói đều chứa chất bột màu trắng dạng cục và khai nhận đó là Heroin K mua để sử dụng cho bản thân.
Tại kết luận giám định số 337/KL-KTHS(MT) ngày 13/3/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: Mẫu vật quản lý của Đào Đình K gửi giám định là ma túy, loại Heroin, có khối lượng 0,1505 gam Heroin.
Cáo trạng số 66/CT-VKSTPTB ngày 19/4/2023 của Việ n kiể m sá t nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình truy tố ra trư ớc Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình để xét xử đối với Đào Đình K về tộ i “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điề u 249 Bộ luậ t Hì nh sự.
Tại phiên tòa, Đào Đình K khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu; đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình vẫn giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Đào Đình K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức án từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: tịch thu tiêu hủy số ma túy thu của bị cáo được niêm phong trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 337/KL-KTHS(MT) của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thái Bình;
Bị cáo Đào Đình K đồ ng ý vớ i tộ i danh Việ n kiể m sá t nhân dân thà nh phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình đã truy tố , không trình bày lời bào chữa và không có ý kiến tranh luận đối với bản luận tội của Kiểm sát viên.
Bị cáo Đào Đình Knói lời sau cùng : Đề nghị Hộ i đồ ng xé t xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬ N ĐỊ NH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nộ i dung vụ á n , căn cứ và o cá c tà i liệ u trong hồ sơ vụ á n đã đượ c tranh tụng tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hà nh vi, quyế t đị nh tố tụ ng củ a cơ quan tiến hành tố tụng, Điề u tra viên, Kiể m sá t viên trong quá trì nh điề u tra , truy tố , xét xử đã thự c hiệ n đúng về thẩ m quyề n, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự . Quá trình điề u tra và tạ i phiên Tòa, không ai có ý kiế n hoặ c khiế u nạ i về hà nh vi , quyế t đị nh củ a Cơ quan tiế n hà nh tố tụ ng, ngườ i tiế n hà nh tố tụ ng, do đó , các hành vi, quyế t đị nh tố tụ ng củ a Cơ quan tiế n hà nh tố tụ ng , ngườ i tiế n hà nh tố tụ ng đã thự c hiệ n đề u hợ p phá p.
[2]. Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Đào Đình K khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong vật chứng, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 22 giờ ngày 10/3/2023, tại khu vực trước cửa số nhà 10, chợ Bồ Xuyên, tổ 04, phường Bồ Xuyên, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, tổ công tác Công an phường Bồ Xuyên, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình phát hiện bắt quả tang Đào Đình K có hành vi tàng trữ trái phép 02 gói ma túy, loại Heroin, có khối lượng 0,1505 gam mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của Đào Đình K là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạ m quy đị nh quản lý chất gây nghiện của nhà nước. Nghiện ma tuý là tệ nạn đang được đấu tranh bài trừ ra khỏi đời sống xã hội. Bị cáo là người đã thành niên, có nhận thức đầy đủ về tính chất nguy hiểm cũng như hậu quả của hành vi do mình thực hiện, nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:…c) Heroine, Cocain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; …”. Như vậy, hành vi trên của Đào Đình K đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
[3]. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình truy tố bị cáo Đào Đình K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo Đào Đình K không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên Tòa, bị cáo thành khẩn khai báo; bố mẹ đẻ bị cáo được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5]. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để cải tạo, giáo dục bị cáo, góp phần đấu tranh phòng ngừa chung.
[6]. Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét thấy bị cáo tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7]. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, số ma túy thu giữ trong vụ án còn lại sau giám định là chất Nhà nước cấm lưu hành nên cầ n tị ch thu tiêu hủy.
[8]. Về nguồ n gố c số ma tú y, bị cáo Đào Đình K khai mua của một người nam giới khoảng 50 tuổi, không biết tên, địa chỉ tại ngõ nhỏ thuộc khu vực chợ Bồ Xuyên, tổ 04, phường Bồ Xuyên, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình ngày 10/3/2023 nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xử lý.
[9]. Về án phí: Bị cáo Đào Đình K phải nộp á n phí hì nh sự sơ thẩ m theo quy đị nh của pháp luật.
[10]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Đào Đình K có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 47; Điều 50 Bộ luật Hình sự; Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đào Đình K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đào Đình K 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 11/3/2023).
3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy thu gi ữ của Đào Đình K còn lại sau giá m đị nh đư ợc niêm phong trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 337/KL - KTHS (MT) của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình.
(Vật chứng trên đã được chuyển đến Chi cụ c Thi hành án dân s ự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 19/4/2023).
4. Về án phí: Bị cáo Đào Đình K phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Đào Đình K có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 11/5/2023).
6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự. Nơi nhậ n:
| - Bị cáo; - TAND tỉnh Thái Bình; - VKSND TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình; - VKSND tỉnh Thái Bình; - Chi cục Thi hành án dân sự TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình; - Cơ quan CSĐT, Cơ quan THAHS Công an TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình; - Cơ sở giam giữ; - Sở Tư pháp Thái Bình; - Lưu hồ sơ vụ á n. | TM. HỘ I ĐỒ NG XÉ T XỬ SƠ THẨ M THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễ n Thị Thanh |