vanban.org

Bản án 60/2023/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Cao Bằng Tuyên án 24/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Bị cáo Phạm Thị C phạm tội “Chứa mại dâm”.

Về hình phạt và điều luật áp dụng: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 327; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt Phạm Thị C 03 (Ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (Năm) năm, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (24/4/2023)… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Thị C - phạm tội chứa mại dâm (điều 327 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Bị cáo Phạm Thị C phạm tội “Chứa mại dâm”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 327 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2023/HS-ST
Ngày 24 - 4 -2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Văn Thụ.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đàm Văn Lý

Ông Đàm Văn Hữu

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Bế Thị Hoa, Thẩm tra viên Toà án nhân dân tỉnh Cao Bằng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng tham gia phiên toà: ông Đinh Như Quỳnh, Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng, tổ chức xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 43/2023/TLST - HS ngày 29/3/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 219/2023/QĐXXST- HS ngày 13 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Thị C; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không có; Sinh ngày: 08/3/1958 tại thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Nơi ĐKHKTT: tổ X, phường SH, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Kinh doanh; Trình độ học vấn: 08/10; Con ông Phạm Văn C (đã chết); Con bà: Lê Thị Đ (đã chết); có chồng: Nguyễn Văn T (đã chết) và có 02 con. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị tạm giữ từ ngày 16/12/2022 đến ngày 21/12/2022, được thay biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 21/12/2022, bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng:

1. Triệu Thị O, sinh năm 2001, Địa chỉ: Thôn LT, xã ĐX, huyện N, tỉnh Bắc Kạn.

2. Nguyễn Thị D, sinh năm 1998, Địa chỉ: Thôn P, xã D, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn.

3. Nông Tiến D, sinh năm1983, Địa chỉ: Tổ 15, phường SH, thanh phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

4. Đàm Nguyễn T, sinh năm 1982, Địa chỉ: Tổ 4, phường H, thanh phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

Những người làm chứng đều vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 20 giờ 20 phút, ngày 15/12/2022, Tổ công tác Phòng Cảnh sát Hình sự Công an tỉnh Cao Bằng phát hiện, bắt quả tang 02 đôi nam nữ có hành vi mua bán dâm tại phòng 101 và phòng 103 Nhà nghỉ ĐT, địa chỉ tổ 06, phường SH, thành phố C, tỉnh Cao Bằng do bà Phạm Thị C (sinh năm 1958) làm chủ. Cụ thể:

- Tại phòng 101: Người mua dâm là Nông Tiến D (sinh năm 1983, trú tại tổ 15, phường SH, thành phố C), người bán dâm là Nguyễn Thị D, sinh năm 1998, trú tại thôn P, xã D, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn. Tại kệ đầu giường phát hiện 02 bao cao su chưa sử dụng, vỏ màu xanh có chữ "HA"; tạm giữ 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus màu hồng đã qua sử dụng có số Imei: 353807084945360 có dùng ốp lưng bằng nhựa trong suốt bên trong ốp điện thoại có số tiền 800.000 đồng gồm 08 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng; 01 căn cước công dân số 004083005665 mang tên Nông Tiến D.

- Tại phòng 103: Người mua dâm là Đàm Nguyễn T (sinh năm 1982, trú tại tổ 4, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng, người bán dâm là Triệu Thị O (sinh năm 2001, trú tại Thôn LT, xã ĐX, huyện N, tỉnh Bắc Kạn) đang trong tình trạng không mặc quần áo. Trên giường có 01 bao cao su chưa sử dụng, vỏ màu xanh có chữ "HA", 01 bao cao su đã sử dụng. Cơ quan Cảnh sát điều tra tạm giữ 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng hiệu OPPO mặt lưng màu trắng, có số IMEI: 869868050885730 lắp sim số 0384834387 của Triệu Thị O, số tiền 1.000.000 đồng của Thuỳ.

Các đối tượng khai nhận tiến hành mua, bán dâm dưới sự sắp xếp của bà Phạm Thị C là chủ Nhà nghỉ ĐT.

Đến 23 giờ 20 phút cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Cao Bằng đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phạm Thị C tại Nhà nghỉ, Karaoke ĐT. Kết quả khám xét phát hiện:

- Tại ngăn thứ nhất của quầy lễ tân bên phải hướng từ cửa vào phát hiện 01 túi xách màu trắng, quai bằng kim loại màu vàng bên trong túi có 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu trắng trong tình trạng khoá màn hình, 05 bao cao su chưa sử dụng vỏ màu xanh có chữ "HA".

- Tại vị trí trên kệ thứ hai của quầy lễ tân bên trái phát hiện 01 túi da màu đen, trong túi có số tiền 2.900.000 đồng gồm 29 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng.

Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thi hành Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ đối với Phạm Thị C đề điều tra làm rõ.

Kết quả điều tra xác định được như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 15/12/2022, Nông Tiến D và Đàm Nguyễn T cùng nhau đến nhà nghỉ ĐT địa chỉ tại tổ X, phường SH, thành phố C để mua dâm. Đến nơi D và T gặp bà Phạm Thị C tại quầy lễ tân. D đặt vấn đề tìm gái bán dâm để mua dâm, bà C báo giá mua dâm là 600.000 đồng/lần, sau đó C sử dụng điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy thực hiện cuộc gọi bằng phần mềm Zalo qua tài khoản "phamchuyen" đăng ký bằng số di động 0373366843 của C đến tài khoản Zalo "Oanh Béo" được đăng ký bằng số điện thoại 0354447934 của Triệu Thị O. C bảo O tìm thêm một người nữa cùng đến Nhà nghỉ ĐT để tiếp khách. Triệu Thị O nhắn tin rủ Nguyễn Thị D cùng đi đến Nhà nghỉ ĐT. Đến nơi bà Chuyên bảo O và D một người vào phòng 103 (tại tầng âm), một người vào phòng 101 (tại tầng 1) để bán dâm, mỗi người lấy 02 bao cao su từ quầy lễ tân rồi Oanh vào phòng 103 để bán dâm cho Đàm Nguyễn T, Duyên vào phòng 101 để bán dâm cho Nông Tiến D. D đã đưa cho D số tiền 800.000 đồng. T chưa trả tiền mua dâm cho O thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Cao Bằng bắt quả tang.

Phạm Thị C đứng tên đăng ký hộ kinh doanh khách sạn, Karaoke, giải khát từ năm 2010. Để tăng thêm thu nhập, khi khách đến hát karaoke hoặc thuê phòng nghỉ có nhu cầu mua dâm, bà Chuyên liên hệ gái bán dâm đến bán dâm cho khách tại các phòng trong Nhà nghỉ ĐT do C làm chủ. Trong khoảng thời gian từ năm 2020 đến ngày bị bắt quả tang Phạm Thị C đã nhiều lần gọi Triệu Thị O, Nguyễn Thị D đến Nhà nghỉ ĐT để bán dâm. Bị cáo thoả thuận với O, D giá mỗi lần bán dâm cho khách từ 600.000 đồng đến 800.000 đồng/ 01 lần. Sau đó O, D phải trích lại cho bị cáo 100.000 đồng tiền hoa hồng, khách mua dâm tự trả tiền phòng nghỉ cho C số tiền 100.000 đồng. Đối với khách đến mua dâm (khách qua đêm) giá mỗi lần mua dâm từ 1.600.000 đồng đến 2.000.000 đồng. Gái bán dâm phải trích lại cho bị cáo 200.000 đồng tiền hoa hồng, khách mua dâm phải trả bị cáo 200.000 đồng tiền phòng nghỉ.

Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Cao Bằng đã tiến hành tạm giữ 01 điện thoại di động loại màn hình cảm ứng hiệu Samsung Galaxy A53 5G đã qua sử dụng có vỏ màu xanh nhạt, sử dụng ốp lưng màu nâu có số Imei1: 353842190537116, lắp sim số 0373366843, 01 đầu phát thu Camera vỏ màu đen, trắng đã qua sử dụng hiệu @Jhua Technology của bị can Phạm Thị C để điều tra làm rõ hành vi phạm tội.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Cao Bằng đã lập hồ sơ đề nghị truy tố đối với Phạm Thị C về tội Chứa mại dâm, quy định tại khoản 1, Điều 327 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố Phạm Thị C về tội Chứa mại dâm quy định tại điểm c khoản 2 Điều 327 Bộ luật Hình sự, đại diện Viện kiểm sát đề nghị:

- Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Phạm Thị C phạm tội Chứa mại dâm theo Điều 327 của Bộ luật Hình sự.

+ Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có

+ Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự (có 04 tình tiết).

- Hình phạt chính: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 2 Điều 327; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Thị C 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 05 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Hình phạt bổ sung: Đề nghị áp dụng khoản 5 Điều 327 của Bộ luật Hình sự, phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng để nộp ngân sách Nhà nước.

- Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

+ Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền thu lợi bất chính của bị cáo:

Tịch thu số tiền 800.0000 đồng thu tại phòng 101 là tiền mua bán dâm.

Tịch thu số tiền 1.000.000 đồng thu tại phòng 103 là tiền mua bán dâm.

+ Trả lại bị cáo số tiền 2.900.000 đồng thu trong túi da màu đen do không liên quan hành vi phạm tội nhưng tiếp tục tạm giữ để thi hành án.

+ Tịch thu phát mại nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A53 5G đã qua sử dụng có vỏ màu xanh nhạt, sử dụng ốp lưng màu nâu có số Imei1: 353842190537116, lắp sim số 0373366843 là công cụ thực hiện phạm tội.

+ Tịch thu tiêu huỷ 08 bao cao su chưa sử dụng.

+ Trả lại 02 túi xách gồm: 01 túi xách màu trắng, quai làm bằng kim loại màu vàng cho Triệu Thị O; trả 01 túi xách giả da màu đen cho bị cáo Phạm Thị C.

+ Trả lại bị cáo 01 đầu phát thu Camera vỏ màu đen, trắng đã qua sử dụng hiệu @Jhua Technology do không liên quan hành vi phạm tội.

- Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo đúng quy định của Pháp luật.

Bị cáo nhất trí với phần luận tội và không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng.

Trong lời nói sau cùng bị cáo đề nghị hội đồng xét xử áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền bị cáo mức thấp nhất Viện kiểm sát đề nghị.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Cao Bằng, Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo Phạm Thị C không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận tội của bị cáo Phạm Thị C hoàn toàn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án đủ căn cứ kết luận:

Trong khoảng thời gian từ năm 2020 đến ngày 15/12/2022, bị cáo Phạm Thị C đã lợi dụng hoạt động kinh doanh nhà nghỉ, dịch vụ Karaoke để chứa mại dâm nhằm thu lời bất chính. Ngày 15/12/2022 bị cáo đã gọi Triệu Thị O, Nguyễn Thị D đến bán dâm cho Nông Tiến D, Đàm Nguyễn T tại phòng 101 và phòng 103 Nhà nghỉ ĐT do C làm chủ thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Cao Bằng bắt quả tang.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, xâm phạm đạo đức xã hội, nếp sống văn minh lành mạnh, làm ảnh hưởng xấu đến thuần phong mỹ tục và là nguyên nhân dẫn đến lây truyền nhiều bệnh xã hội khác. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, vì động cơ vụ lợi. Hành vi trên của bị cáo Phạm Thị C đã phạm vào Tội chứa mại dâm, thuộc trường hợp “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 328 của Bộ luật Hình sự.

“Điều 327. Tội chứa mại dâm:

1. Người nào chứa mại dâm, thì bị phạt tù từ 01 tháng đến 05 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a)…

c) Phạm tội 02 lần trở lên;

…

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.”

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự.

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ sau:

+ “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;

+ Người phạm tội tự nguyện nộp lại số tiền do thu lợi bất chính mà có (đã nộp số tiền 3.200.000 đồng tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Cao Bằng ngày 10/4/2023, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;

+ Gia đình bị cáo có công với cách mạng (Bố đẻ bị cáo ông Phạm Văn C được Chủ tịch nước tặng Huân chương chiến công hạng nhất; Gia đình bị cáo có ông nội Phạm Văn M hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ và gia đình được trợ cấp thờ cúng Liệt sỹ hàng năm; là gia đình cách mạng gương mẫu; Bố bị cáo được tặng huy hiệu 45 năm tuổi Đảng (khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự);

+ Người phạm tội là người cao tuổi (65 tuổi);

+ Người phạm tội đang mắc bệnh hiểm nghèo (U ác tính vú) , đang điều trị ngoại trú tại Bệnh viện K - khoa y học hạt nhân; Kết quả siêu âm ngày 10/01 và 11/01/2023 thì bị cáo đang mắc bệnh hiểm nghèo nên cần áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo có 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 và 04 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Hiện tại bị cáo đi lại khó khăn phải có người giúp đỡ, Hội đồng xét xử xét thấy do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tuổi đã cao, việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú để quản lý theo rõi giáo dục là phù hợp, đồng thời cũng thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật là có căn cứ.

Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 327 Bộ luật Hình sự, cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo để nộp ngân sách nhà nước.

Xử lý vật chứng:

+ Tịch thu tiêu huỷ 08 bao cao su chưa sử dụng.

+ Tịch thu số tiền 1.800.0000 đồng thu tại phòng 101 và 103 là tiền mua bán dâm để nộp Ngân sách nhà nước.

+ Tịch thu hóa giá lấy tiền nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A53 5G đã qua sử dụng có vỏ màu xanh nhạt, sử dụng ốp lưng màu nâu có số Imei1: 353842190537116, lắp sim số 0373366843 là phương tiện phạm tội.

Trả lại các đồ vật, tài sản do không liên quan đến hành vi phạm tội, gồm:

+ Trả lại cho bị cáo số tiền 2.900.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

+ Trả lại 02 túi xách đã qua sử dụng gồm: 01 túi xách giả da màu trắng, quai làm bằng kim loại màu vàng cho Triệu Thị O, trả 01 túi chất liệu giả da màu đen cho bị cáo Phạm Thị C.

+ Trả lại cho bị cáo 01 đầu phát thu Camera vỏ màu đen, trắng đã qua sử dụng hiệu @Jhua Technology do không liên quan hành vi phạm tội.

Các nhận định khác:

Đối với Triệu Thị O; Nguyễn Thị D; Nông Tiến D và Đàm Nguyễn T, Phòng Cảnh sát Hình sự Công an tỉnh Cao Bằng đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền theo quy định tại khoản 01 Điều 24, 25 Nghị định 144/2021/NĐ-CP, ngày 31/12/2021 của Chính phủ là đúng quy định.

Quá trình điều tra xác định Nguyễn Mạnh N (sinh năm 1984) là con trai ruột của bị cáo C; Trương Thị H (sinh năm 1990) là vợ của N cùng sinh sống tại nhà nghỉ ĐT. Hàng ngày N và H có giúp bị cáo C dọn dẹp các phòng nghỉ, phòng hát nhưng không biết việc bị cáo C chứa chấp mại dâm nên Cơ quan điều tra không xử lý hình sự là có căn cứ.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng đề nghị về tội danh; về mức hình phạt, về xử lý vật chứng phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo là người cao tuổi nên không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố;

1. Về tội danh: Bị cáo Phạm Thị C phạm tội “Chứa mại dâm”.

2. Về hình phạt và điều luật áp dụng: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 327; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt Phạm Thị C 03 (Ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (Năm) năm, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (24/4/2023).

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường SH, thành phố C, tỉnh Cao Bằng giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 327 Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng chẵn) để nộp Ngân sách nhà nước.

3. Xử lý vật chứng:

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

+ Tịch thu tiêu huỷ: 08 (tám) bao cao su chưa sử dụng.

+ Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: Số tiền 1.800.000 đồng (Một triệu tám trăm nghìn đồng) là tiền liên quan đến tội phạm.

+ Tịch thu phát mại nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Samsung Galaxy A53 5G đã qua sử dụng có vỏ màu xanh nhạt, sử dụng ốp lưng màu nâu có số Imei1: 353842190537116, lắp sim số 0373366843 là phương tiện phạm tội.

+ Trả lại bị cáo số tiền 2.900.000đ (Hai triệu chín trăm nghìn đồng) vì không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

+ Trả lại 02 túi xách đã qua sử dụng gồm: 01 (một) túi xách giả da màu trắng, quai làm bằng kim loại màu vàng cho Triệu Thị O, trả 01 (một) túi xách chất liệu giả da màu đen cho bị cáo Phạm Thị C.

+ Trả lại bị cáo 01 (một) đầu phát thu Camera màu đen, trắng nhãn hiệu @Jhua Technology do không liên quan hành vi phạm tội.

(Xác nhận số tiền Việt Nam 4.700.000đ (Bốn triệu bảy trăm nghìn đồng) đã được chuyển vào tài khoản tạm giữ của Cục THADS tỉnh Cao Bằng theo Giấy nộp tiền ngày 19/4/2023) và số tiền 3.200.000đ (Ba triệu hai trăm nghìn đồng chẵn) bị cáo Phạm Thị C đã nộp do thu lợi bất chính mà có tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Cao Bằng theo Biên lai thu tiền số 0005028 ngày 10/4/2023 ngày 13/4/2023, sẽ đối trừ khi thi hành án).

4. Về án phí: Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo Phạm Thị C là người cao tuổi nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKSND cấp cao tại Hà Nội;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND tỉnh Cao Bằng;

- Công an tỉnh Cao Bằng;

- Phòng hồ sơ Công an tỉnh CB;

- UBND phường SH;

- Sở Tư pháp Cao Bằng;

- Phòng KTNV&THA;

- Cục THA dân sự tỉnh;

Hoàng Văn Thụ

- Bị cáo;

- Lưu hồ sơ vụ án;

- Lưu tòa Hình sự.

Cỡ chữ