vanban.org

Bản án 60/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Hồng Bàng, TP. Hải Phòng Tuyên án 30/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sư; căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong số 119MT/PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng và một vỏ bao thuốc lá; tịch thu sung quỹ nhà nước …

Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Mặc Văn T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sư; căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong số 119MT/PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng và một vỏ bao thuốc lá; tịch thu sung quỹ nhà nước …
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HỒNG BÀNG
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2023/HS-ST
Ngày 30-6-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Giang

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Minh Toàn

Ông Trần Ngọc Hải

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Nguyệt - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Lệ Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai đối với vụ án hình sự thụ lý số 51/2023/TLST-HS ngày 09 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:

Mặc Văn T, sinh ngày 06 tháng 8 năm 1997 tại thành phố Hải Phòng; Nơi cư trú: thôn 9, xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; Con ông Mạc Văn T và bà Nguyễn Thị H; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; bị cáo có vợ là Đinh Thị U sinh năm 1997 và có một con sinh năm 2020; tiền sự, tiền án: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/12/2022 đến ngày 04/01/2023 chuyển tạm giam, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Khoảng 15 giờ ngày 26/12/2022, Mặc Văn T đang ở nhà thì có bạn xã hội tên Quyết (chưa xác định được lai lịch) gọi điện thoại cho T (T đã xóa số điện thoại của Quyết) nhờ mua hộ ma túy tổng hợp và đưa cho người phụ nữ tên Hà (chưa xác định được lai lịch), T đồng ý. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày người phụ nữ tên Hà liên lạc cho T bằng số điện thoại 0898.699.296 B T mua 10 (mười) viên ma túy tổng hợp và hẹn khoảng 20 giờ cùng ngày đến khu vực đường Hồ Đá, phường Sở Dầu, quận Hồng Bàng để giao dịch, T đồng ý. Lúc này T gọi điện thoại cho một người phụ nữ tên T có chồng tên B (nhà ở khu chung cư Hoàng Huy, An Đồng, An Dương, Hải Phòng là bạn xã hội) có số điện thoại 0705.744.269 hỏi mua 10 (mười) viên ma túy tổng hợp và hẹn trả tiền sau khi bán được ma túy T, B đồng ý và cho T số điện thoại 0988.146.388 để liên lạc với người giao ma túy. Sau đó T gọi taxi của hãng Nguyễn Gia do Nguyễn Đức Thắng, sinh năm 1987, địa chỉ: xóm 3, Phù Ninh, T Nguyên, Hải Phòng điều khiển chở ra khu vực đô thị chung cư Hoàng Huy, An Dương, An Đồng, Hải Phòng. Khi đến chung cư Hoàng Huy, T xuống xe và gọi vào số điện thoại 0988.146.388 thì có một nam giới nghe máy báo giá cho T 240.000 đồng/ 01 viên ma túy tổng hợp, tổng 10 viên ma túy tổng hợp có giá 2.400.000 (hai triệu bốn trăm nghìn) đồng, T đồng ý và cho người này địa điểm giao ma túy, đặc điểm xe taxi. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày T đang ngồi trên ghế phụ của xe taxi chờ ở khu vực cổng chung cư Hoàng Huy, An Đồng, An Dương, Hải Phòng thì có hai nam giới đi xe mô tô không biết Biển kiểm soát đến gần taxi T đang ngồi đợi bên trong xe (T kéo cửa kính xe ghế phụ xuống) thì nam giới ngồi sau ném vào bên trong xe T đang ngồi một vỏ bao thuốc lá rồi bỏ đi. T biết là ma túy nên B tài xế taxi chở đi ra khu vực đường Hồ Đá, Sở Dầu, Hồng Bàng, trong lúc anh Thắng đang điều khiển xe thì T dùng tay phải lấy vỏ bao thuốc lá mở ra xem, thấy bên trong có một túi nilon chứa 10 viên nén màu xanh ma túy tổng hợp (anh Thắng không biết), T lấy túi nilon chứa 10 viên ma túy tổng hợp cho vào túi quần bên trái phía trước đang mặc còn để vỏ bao thuốc lá lên trên mặt trước xe taxi đối diện T ngồi. T liên lạc với Hà để giao ma túy và báo giá 270.000 đồng /01 viên, tổng 10 viên là 2.700.000 (hai triệu bảy trăm nghìn) đồng (T được hưởng lợi 30.000 đồng /01 viên) và B Hà trả tiền taxi cho T, Hà đồng ý. Khi T đi đến khu vực đường Hồ Đá thì nhận được điện thoại của Hà báo địa chỉ giao dịch là trước cửa nhà số GH 17 đường Hồ Đá, Sở Dầu, Hồng Bàng, Hải Phòng. Khi T tới nơi thấy có một người phụ nữ đang đứng ở đó (T nghĩ đó là Hà) nên chuẩn bị xuống xe giao ma túy cho Hà thì bị lực lượng Công an kiểm tra đưa T về Công an phường Sở Dầu lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ trong túi quần bên trái phía trước T đang mặc một túi nilon bên trong chứa 10 (mười) viên nén màu xanh ma túy tổng hợp, ngoài ra còn thu giữ trên xe taxi phía mặt đối diện ghế phụ một vỏ bao thuốc lá và thu của T 01 điện thoại Iphone màu sáng.

Tại Kết luận giám định số 119/KL-KTHS (MT) ngày 30/12/2022 của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Mười viên nén của mẫu KT gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 3,31 gam, loại MDMA”.

Tại Kết luận giám định số 373/KL-KTHS(KTS) ngày 18/5/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kèm theo 01 đĩa quang lưu dữ liệu giám định điện thoại bị can Mặc Văn T, qua kiểm tra thể hiện vào các ngày từ 24 đến 26 tháng 12/2022 người phụ nữ tên Hà có số điện thoại 0898.699.296, người có tên trong danh bạ C. T và số điện thoại 0988.146.388 cùng bị cáo T liên lạc với nhau để giao dịch mua bán ma túy.

2

Xét nghiệm nhanh chất ma túy trong nước tiểu Mặc Văn T, kết quả T âm tính với các chất ma túy.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hồng Bàng đã tiến hành thu giữ thư tín, điện tín đối với các số thuê bao 0898.699.296, 0705.744.269, 0988.146.388 của các đối tượng liên lạc mua bán ma túy với T nhưng đến nay chưa có kết quả của Công ty viễn thông Viettel và Mobifone.

Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Mặc Văn T khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên và khai toàn bộ số ma túy bị thu giữ T dùng để bán kiếm lời nhưng chưa kịp bán.

Về vật chứng: lượng ma túy còn lại sau giám định đã được niêm phong số 119MT/PC09; một điện thoại Iphone màu sáng đã qua sử dụng; một vỏ bao thuốc lá chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận Hồng Bàng

Tại Bản Cáo trạng số 64/CT-VKS ngày 06/6/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Mặc Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà bị cáo Mặc Văn T khai nhận toàn bộ nội dung vụ án như cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng tại phiên toà vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Mặc Văn T và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Mặc Văn T với mức án từ 48 tháng tù đến 54 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” thời hạn tù tính từ ngày 27 tháng 12 năm 2022; đề nghị phạt bổ sung từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng; căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy lượng ma túy còn lại sau giám định đã được niêm phong số 119MT/PC09; một vỏ bao thuốc lá; tịch thu sung quỹ nhà nước một điện thoại Iphone màu sáng đã qua sử dụng (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/6/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng).

Về án phí: Bị cáo Mặc Văn T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Sau khi đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận, các bị cáo đều thành khẩn khai nhận tội và tỏ ra ăn năn hối cải. Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt để sớm trở lại xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

3

Trên cơ sở nội dụng vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hồng Bàng, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

- Về tội danh

Lời khai của bị cáo Mặc Văn T tại phiên toà phù hợp với nội dung vụ án nêu trên thể hiện: Khoảng 20 giờ ngày 26 tháng 12 năm 2022, bị cáo Mặc Văn T có hành vi mua ma túy MDMA có trọng lượng 3,31 gam mục đích bán lại cho người phụ nữ tên Hà để kiếm lời nhưng chưa kịp giao dịch thì bị bắt quả tang tại số GH 17 đường Hồ Đá, Sở Dầu, Hồng Bàng, Hải Phòng, vì vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Mặc Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là đúng theo quy định của pháp luật.

Hành vi phạm tội của của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về mua bán các chất ma túy, làm suy giảm sức khỏe con người và gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

- Về nhân thân, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ:

Bị cáo Mặc Văn T chưa có tiền án, tiền sự phạm mua bán trái phép chất ma túy là loại tội đang bị xã hội trừng trị nghiêm khắc và là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác. Vì vậy cần phải bắt bị cáo phải cách ly khỏi xã hội một thời gian đủ để răn đe cải tạo bị cáo. Song cũng xét tại cơ quan điểm tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Mặc Văn T có thái độ khai báo thành khẩn, bị cáo là quân nhân xuất ngũ, đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên đề nghị xử bị cáo Mặc Văn T mức hình phạt từ 48 tháng tù đến 54 tháng tù là cao so với nhân thân, hành vi cũng như hậu quả của tội phạm gây ra đối với xã hội. Hội đồng xét xử nhận thấy chỉ cần xử bị cáo mức hình phạt thấp hơn mức hình phạt Kiểm sát viên đề nghị cũng đủ để răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Cũng tại phiên tòa Kiểm sát viên đề nghị áp dụng hình phạt bổ

4

sung đối với bị cáo Mặc Văn T số tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử nhận thấy quá trình điều tra, căn cứ các chứng cứ có trong hồ sơ không thể hiện bị cáo có tài sản gì, bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định. Vì vậy việc đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền theo quy định khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Mặc Văn T sẽ khó có khả năng thi hành án nên Hội đồng xét xử không chấp áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo Mặc Văn T.

- Về xử lý vật chứng:

Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Vật chứng là 01 (một) phong bì niêm phong số 119MT/PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng và một vỏ bao thuốc lá, xét vật chứng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với chiếc điện thoại Iphone màu sáng đã qua sử dụng là công cụ liên hệ dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/6/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng).

Trong vụ án này đối với người đàn ông tên Quyết, người phụ nữ tên Hà, người bán ma túy cho T là T và B, người giao ma túy cho T hiện chưa xác định được lai lịch, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hồng Bàng tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau. Đối với Nguyễn Đức Thắng lái xe taxi chở Mặc Văn T đi mua bán ma túy vào ngày 26/12/2022, tuy nhiên Thắng không biết T mua bán ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hồng Bàng không có căn cứ xử lý đối với Thắng. Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Quyền kháng cáo đối với bản án:

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 251, Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Mặc Văn T 42 (bốn mươi hai) tháng tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy", thời hạn tù tính từ ngày 27/12/2022.

Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sư; căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong số 119MT/PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng và một vỏ bao thuốc lá; tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại Iphone màu sáng đã qua sử dụng (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/6/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng).

5

Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Mặc Văn T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ